|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 03, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 270-TƯƠNG QUAN GIỮA VÔ MINH VÀ ÁI- Kinh Hiểu Biết Trực Tiếp (Abhijānasuttaṃ). ******
Sāvatthinidānaṃ.
“Rūpaṃ, bhikkhave, anabhijānaṃ
aparijānaṃ avirājayaṃ appajahaṃ abhabbo dukkhakkhayāya;
Vedanaṃ
anabhijānaṃ aparijānaṃ avirājayaṃ appajahaṃ abhabbo
dukkhakkhayāya; saññaṃ anabhijānaṃ … saṅkhāre anabhijānaṃ
aparijānaṃ avirājayaṃ appajahaṃ abhabbo dukkhakkhayāya;
viññāṇaṃ anabhijānaṃ aparijānaṃ avirājayaṃ appajahaṃ abhabbo
dukkhakkhayāya.
Nhân duyên tại
Sāvatthi …
-- Này chư Tỳ
khưu, do không trực tiếp biết, không
thấu hiểu, không nhàm chán, không buông xả sắc nên không có
khả năng đoạn diệt khổ.
Do không trực
tiếp biết, không thấu hiểu, không nhàm chán, không buông xả
thọ nên không có khả năng đoạn diệt khổ.
Do không trực
tiếp biết, không thấu hiểu, không nhàm chán, không buông xả
tuởng nên không có khả năng đoạn diệt khổ.
Do không trực
tiếp biết, không thấu hiểu, không nhàm chán, không buông xả
hành nên không có khả năng đoạn diệt khổ.
Do không trực
tiếp biết, không thấu hiểu, không nhàm chán, không buông xả
thức nên không có khả năng đoạn diệt khổ.
Rūpañca kho, bhikkhave, abhijānaṃ
parijānaṃ virājayaṃ pajahaṃ bhabbo dukkhakkhayāya;
Vedanaṃ
abhijānaṃ … saññaṃ … saṅkhāre … viññāṇaṃ abhijānaṃ parijānaṃ
virājayaṃ pajahaṃ bhabbo dukkhakkhayāyā”ti.
Này chư Tỳ khưu,
do trực tiếp biết, thấu hiểu, nhàm chán, buông xả sắc nên có
khả năng đoạn diệt khổ.
Do trực tiếp
biết, thấu hiểu, nhàm chán, buông xả thọ nên có khả năng
đoạn diệt khổ.
Do trực tiếp
biết, thấu hiểu, nhàm chán, buông xả tuởng nên có khả năng
đoạn diệt khổ.
Do trực tiếp
biết, thấu hiểu, nhàm chán, buông xả hành nên có khả năng
đoạn diệt khổ.
Do trực tiếp
biết, thấu hiểu, nhàm chán, buông xả thức nên có khả năng
đoạn diệt khổ.
Chú Thích Trong
bài kinh nầy có nhiều chữ mang ý nghĩa “hiểu biết” tương đối
tế nhị. Theo
Sớ giải chữ
abhijānaṃ
có nghĩa là
“cái biết trực tiếp” không phải do nghe hay suy diễn. Hoà
thượng Thích Minh Châu dùng bản chữ của bản Hán tạng là
“thắng tri”. Chữ
parijānaṃ
có nghĩa là
“biết tường tận”. Trong bản dịch nầy dùng chữ “thấu hiểu” Chữ
virājayaṃ
không tham
luyến. HT Thích Minh Châu dịch là ly tham. Bản của Ngài
Bodhi dịch là “becoming dispassionate”. Ở đây dịch là “nhàm
chán” cho hợp với ngữ cảnh. Chữ
pajahaṃ
nghĩa là từ
bỏ hay buông xả. Cụm từ
bhabbo
dukkhakkhayāya
nghĩa là có khả năng đoạn khổ. Bản Sớ
Giải của Kinh Căn Bổn Pháp Môn (Trung Bộ, Kinh số 1) phân
biệt những “sự hiểu biết” của các bậc thánh hữu học, của chư
vị a la hán thinh văn, và của bậc toàn giác.Trong sự phân
biệt nầy thì “cái biết trực tiếp” thuộc các bậc hữu học;
trong khi “sự thấu hiểu” hay cái biết toàn diện thuộc chư vị
A la hán thinh văn. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |