|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 20 tháng 03, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 277-TỪ CĂN CỘI TỚI NGỌN NGÀNH- Kinh Cội Nguồn Của Khổ Đau (Aghamūlasuttaṃ). ******
Một đặc điểm của pháp thế gian, hay pháp hữu vi, theo Phật
học là tất cả sự sanh khởi, hiện hữu đều có căn nguyên. Nhân
duyên thì có nhiều nhưng nói về căn cội thì Đức Phật dạy tất
cả vốn bắt nguồn từ khát ái (taṇhā). Thoạt nghe rất khó hiểu
vì đâu ai khao khát khổ đau mà lại nói khổ đau sản sinh từ
khát ái?. Tam giới như hoả trạch vốn tạo nên bởi dục ái, sắc
ái, vô sắc ái. Những biến hiện vô cùng của vạn hữu đến từ
dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Hướng về một “phương trời viễn
mộng” tạo thành cảnh giới tái sanh. Ý niệm muốn có cái nầy
hay không là thế kia chính là động lực tạo nên dòng trầm
luân sanh tử. Có ai biết bể khổ mênh mông khởi sự từ nỗi
khát khao chìm sâu trong tâm thức?
Sāvatthinidānaṃ.
“Aghañca, bhikkhave, desessāmi
aghamūlañca. Taṃ suṇātha.
Nhân duyên ở Sāvatthi
-Này chư Tỳ Khưu,
Ta sẽ thuyết về khổ đau và
cội nguồn của đau khổ . Hãy lắng nghe,
Katamañca,
bhikkhave, aghaṃ? Rūpaṃ, bhikkhave, aghaṃ, vedanā aghaṃ,
saññā aghaṃ, saṅkhārā aghaṃ, viññāṇaṃ aghaṃ. Idaṃ vuccati,
bhikkhave, aghaṃ.
Này chư Tỳ Khưu, thế nào là khổ đau?
Sắc là khổ đau,
thọ là khổ đau; tưởng là khổ đau; hành là khổ đau; thức là
khổ đau. Này chư Tỳ Khưu, đây gọi là khổ đau.
Katamañca,
bhikkhave, aghamūlaṃ? Yāyaṃ taṇhā ponobhavikā
nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī;
Seyyathidaṃ—kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā. Idaṃ
vuccati, bhikkhave, aghamūlan”ti.
Này chư Tỳ Khưu,
thế nào là cội nguồn của đau khổ? Chính là khát ái dẫn tới
tái sanh, gắn kết với vui thích và say đắm, tầm cầu hỷ lạc
chỗ này, chỗ kia; tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
Chú Thích Chữ
agha theo Sớ giải đồng nghĩa với dukkha. Tuy vậy trên phương
diện ngữ văn thì dukkha - thường dịch là khổ - mang ý nghĩa
phổ quát hơn kể cả bản chất khách quan về sự bất toàn, trống
rỗng trong lúc chữ agha cũng nói về khổ nhưng qua góc nhìn
của nhận chịu hay cảm nhận, giống như ý nghĩa cụm từ khốn
khổ khốn nạn hay nỗi đau trầm thống. Bản Anh ngữ của ngài
Bodhi dùng chữ misery. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |