|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 25 tháng 03, 2024
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
- THÂN CẬN BẠN LÀNH- .
Với một người muốn có tiến bộ trong
đời sống tinh thần thì điều tiên
quyết là cái nhìn xác thực hay chánh
kiến. Đức Phật dạy để có được như
vậy cần tới hai pháp:
Này chư tỳ khưu, có hai yếu tố làm
sanh khởi chánh kiến: một là sự
hướng dẫn của người khác
(paratoghosa) ; hai là khéo nhận
thức (yoniso manasikāra). Tăng Chi
Bộ I. 87
Trong một bài kinh khác Đức Phật
nhấn mạnh:
Đối với một người tu tập, Ta không
thấy một yếu tố bên ngoài nào quan
trọng hơn thân cận bạn lành.
Đối với người tu tập, Ta không thấy
một yếu tố bên trong nào quan trọng
hơn là khéo nhận thức. Như Thị
Thuyết. 9-10
Có bạn lành (kalyāṇamittatā) theo
kinh điển đồng nghĩa lới thân cận
bậc hiền trí (sappurisasevanā).
Định
nghĩa thế nào là một bậc thiện trí
theo Phật Pháp là điều đặc biệt quan
trọng. Đối nền văn hoá Trung Hoa, và
Việt Nam, thì hình ảnh mẫu mực của
một người tốt được gọi lả người quân
tử. Hình ảnh của bậc thiện trí trong
Phật Pháp có phần khác. Trước hết là
người thiện trí có đời sống hiền
thiện trên cả ba phương diện thân
nghiệp, ngữ nghiệp, và ý nghiệp. Để
được như vậy không đơn giản là có
bản tính hiền hoà mà cần tới sự hiểu
biết sáng suốt. Sống hiền thiện và
lợi lạc cần tới trình độ trí tuệ
cao. Một điểm thú vị là trong kinh
điển Phật giáo Đại Thừa thường nhắc
tới chữ bồ tát
như là bậc có hạnh nguyện đặc
thù thì trong Tam Tạng Pāli chữ trí
giả - paṇḍita- thường được sử dụng.
Một mặc định trong kinh văn là người
trí phải là người thiện hay ngược
lại người thiện là người trí.
Hiền nhân theo lời Phật dạy có thể
nhận diện: “Nầy chư Tỳ khưu, hiền
nhân có ba hiện tướng: thân hiền
thiện, ngữ hiền thiện, ý hiền thiện”
Trung Bộ, kinh số 129.
Trí giả được định nghĩa chính xác
theo Phật Pháp là người có bảy sự
hiểu biết như được ghi trong Tăng
Chi Bộ, phẩm Bảy Pháp:
1.
Tri nhân hay biết về pháp
(dhammaññutā) tức là sự hiểu biết về
nguyên tắc căn bản tạo nên những tác
động hay hiệu ứng. Thí dụ biết những
gì nên làm để có được nội tâm thanh
thản.
2.
Tri quả hay biết về nghĩa
(atthaññutā) là tri kiến về mục đích
của hành động hay ý nghĩa xa gần của
những pháp được đề cập.
3.
Tri kỷ hay biết về bản thân
(attaññutā) là biết về chính mình
qua những phương diện sở trường, sở
đoản, cá tính, thị hiếu… nhờ vậy
tránh được cái nhìn thiếu thực tế về
bản thân.
4.
Tri bỉ hay biết về tha nhân
(puggalaññutā) tức là bén nhạy về
nhân tâm và ưu khuyết của những hạng
người dị biệt trong xã hội.
5.
Tri độ là biết mức độ hợp tình hợp
lý (mattaññutā) tức là khả năng
lượng định thế nào chừng mực thích
hợp trong cuộc sống, đặc biệt là
tránh hai cực đoan thái quá hoặc bất
cập.
6.
Tri thời là biết thế nào là đúng
thời và thời lượng thích hợp để hành
động (kālaññutā) tức sự thiện xảo
trong sự nói, làm đúng lúc, với thời
gian không dư thiếu.
7.
Tri hội là biết đám đông quần chúng
(parisaññutā) tức là có khả năng
tương tác hợp tình hợp lý với đám
đông như sự tụ họp, hội thảo, quần
chúng tập trung với lý do đặc biệt
nào đó.
Ngoài đời sống hiền thiện và trí tuệ
sáng suốt, một người được gọi là bạn
lành đúng nghĩa được Đức Phật dạy có
7 đặc tính (Tăng Chi Bộ IV 32):
1.
Hoà ái (piyo) tức cách cư xử thân
thương.
2.
Khả kính (garu) tức tư cách đáng quý
trọng.
3.
Nêu gương sáng (bhāvanīyo) là hình
ảnh khích lệ trong sự cải thiện bản
thân.
4.
Lời nói có trọng lượng (vattā) là
khả năng sử dụng ngôn từ có hiệu
quả. Nói cách khác là người có lời
nói đáng được lắng nghe và được
truyền đạt một cách tinh giản.
5.
Biết lắng nghe (vacanakkhamo) là
người có thiện chí, kiên nhẫn, cảm
thông để lắng nghe những điều phiền
phức.
6.
Có khả năng trình bày những điều sâu
xa tế nhị (gambhīrañca kathaṃ kattā)
là người có thể chia sẻ những điều
khó nói, khó hiểu. Nhận thức tinh tế
và mổ xẻ được những điều vốn không
dễ trình bày.
7.
Không dẫn dắt sai lạc (no caṭṭhāne
niyojaye) là không vì bất cứ lý do
gì có hậu ý khiến người khác lầm
đường lạc lối.
Nói về những đặc tính của một thiện
hữu thì cần tới một quyển sách dày
để nêu ra những gì tìm thấy trong
kinh điển. Một số lời Phật dạy về
bạn nên thân cận sẽ được đề cập
trong Kinh Thí Ca La Việt. Hai Phật
ngôn sau đây cần được ghi lại như
lời kết của bài nầy:
“Này Ananda, Ta nói thân cận bạn
lành là toàn phần của phạm hạnh chứ
không phải nữa phần của phạm
hạnh”(Tương Ưng Bộ V. 29-30)
“Này chư Tỳ khưu, rạng đông là báo
hiệu của mặt trời mọc. Cũng vậy,
thân cận bạn lành là chỉ dấu đầu
tiên của một người thực hành bát
chánh đạo” (Tương Ưng Bộ V. 2-4) Tỳ kheo Giác Đẳng biên soạn. |