|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 27 tháng 03, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
280. KinhKhông Phải Của Các ThầyII (Dutiyanatumhākasuttaṃ)
Bài kinh nầy có
ý nghĩa giống như bài kinh
trước, kinh số 279. Điều khác
biệt duy nhất là không có thí dụ
về những chiếc lá trong sân
chùa. Một lần nữa đây cũng là
trường hợp điển hình cho thấy
tính cách bảo thủ trong việc kết
tập và trùng tuyên Tam Tạng với
chủ trương bảo lưu trọn vẹn chứ
không lược bới một số kinh có
nội dung trùng lập.
KHUYNH HƯỚNG TIỀM ẨN TẠO NÊN CON
NGƯỜI 281. Kinh Một Tỳ Khưu Nọ(Aññatarabhikkhusuttaṃ )
Tập III. Chương I. Tương Ưng Uẩn
-Phẩm
Không Phải Của Các Thầy(S,II,320)
Người ta thường được nhận biết
qua sự thể hiện bên ngoài như
ngoại hình, tài năng, học vị…
Đức Phật cạy có những khuynh
hướng sâu kín trong tâm tuy vô
hình nhưng dẫn đạo cuộc sống cá
nhân, và từ đó, tạo nên con
người. Những khuynh hướng nầy
thường vô hình, tế nhị, thường
khó nhận dạng nhưng lại có ảnh
hưởng lớn. Rốt cuộc thì chính
mỗi người phải tự nhận biết
khuynh hướng nội tại của bản
thân vốn ẩn khuất khó thấy, khó
biết.
Sāvatthinidānaṃ.
Atha kho aññataro bhikkhu yena
bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi.
Ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca: “sādhu
me, bhante, bhagavā saṅkhittena
dhammaṃ desetu; yamahaṃ
bhagavato dhammaṃ sutvā eko
vūpakaṭṭho, appamatto ātāpī
pahitatto vihareyyan”ti.
Nhân duyên ở
Sāvatthi.
Bấy giờ có một
vị tỳ khưu đi đến đảnh lễ Đức
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vì tỳ khưu ấy bạch rằng:
—Bạch Đức Thế
Tôn, tốt lành thay Đức Thế Tôn
thuyết pháp cô đọng súc tích cho
con! Sau khi nghe thuyết pháp,
con sẽ sống một mình, tịnh cư,
nhiệt tâm, tinh cần, không xao
lãng.
“Yaṃ
kho, bhikkhu, anuseti, tena
saṅkhaṃ gacchati; yaṃ nānuseti,
na tena saṅkhaṃ gacchatī”ti.
“Aññātaṃ,
bhagavā, aññātaṃ, sugatā”ti.
“Yathā kathaṃ
pana tvaṃ, bhikkhu, mayā
saṅkhittena bhāsitassa
vitthārena atthaṃ ājānāsī”ti?
—Này Tỳ khưu,
khi
người ta có khuynh hướng tiềm
tàng nào thời định hình theo
khuynh hướng ấy. Khi người
ta không có khuynh hướng tiềm
tàng nào thời không định hình
theo khuynh hướng ấy.
—Bạch Đức Thế
Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện
Thệ, con đã hiểu.
—Này Tỳ khưu,
Thầy hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi điều Ta nói một cách ngắn
gọn như thế nào?
“Rūpañce,
bhante, anuseti tena saṅkhaṃ
gacchati. Vedanañce anuseti tena
saṅkhaṃ gacchati. Saññañce
anuseti tena saṅkhaṃ gacchati.
Saṅkhāre ce anuseti tena saṅkhaṃ
gacchati. Viññāṇañce anuseti
tena saṅkhaṃ gacchati.
—Bạch Thế Tôn,
nếu có khuynh hướng tiềm tàng
đối với sắc thì định hình theo
điều ấy. Nếu có khuynh hướng
tiềm tàng đối với thọ thì định
hình theo điều ấy. Nếu có khuynh
hướng tiềm tàng đối với tưởng
thì định hình theo điều ấy. Nếu
có khuynh hướng tiềm tàng đối
với hành thì định hình theo điều
ấy. Nếu có khuynh hướng tiềm
tàng đối với với thức thì định
hình theo điều ấy.
Rūpañce, bhante,
nānuseti na tena saṅkhaṃ
gacchati. Vedanañce … saññañce …
saṅkhāre ce … viññāṇañce
nānuseti na tena saṅkhaṃ
gacchati.
Imassa khvāhaṃ,
bhante, bhagavatā saṅkhittena
bhāsitassa evaṃ vitthārena
atthaṃ ājānāmī”ti.
—Bạch Thế Tôn,
nếu không có khuynh hướng tiềm
tàng đối với sắc thì
không định hình
theo điều ấy. Nếu không
có khuynh hướng tiềm tàng đối
với thọ thì không định hình theo
điều ấy. Nếu không có khuynh
hướng tiềm tàng đối với tưởng
thì không định hình theo điều
ấy. Nếu không có khuynh hướng
tiềm tàng đối với hành thì không
định hình theo điều ấy. Nếu
không có khuynh hướng tiềm tàng
đối với với thức thì không định
hình theo điều ấy.Bạch Thế Tôn,
với lời
nói cô đọng của Đức Thế Tôn, con
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
“Sādhu sādhu,
bhikkhu. Sādhu kho tvaṃ,
bhikkhu, mayā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ
ājānāsi.
Rūpañce,
bhikkhu, anuseti tena saṅkhaṃ
gacchati. Vedanañce … saññañce …
saṅkhāre ce … viññāṇañce anuseti
tena saṅkhaṃ gacchati.
Rūpañce,
bhikkhu, nānuseti na tena
saṅkhaṃ gacchati. Vedanañce …
saññañce … saṅkhāre ce …
viññāṇañce nānuseti na tena
saṅkhaṃ gacchati.
Imassa kho,
bhikkhu, mayā saṅkhittena,
bhāsitassa evaṃ vitthārena attho
daṭṭhabbo”ti.
—Tốt lắm, tốt
lắm, này Tỳ khưu với lời nói cô
đọng của Ta, Thầy hiểu ý nghĩa
một cách rộng rãi như vậy.
Nếu có khuynh
hướng tiềm tàng đối với sắc thì
định hình theo điều ấy. Nếu có
khuynh hướng tiềm tàng đối với
thọ thì định hình theo điều ấy.
Nếu có khuynh hướng tiềm tàng
đối với tưởng thì định hình theo
điều ấy. Nếu có khuynh hướng
tiềm tàng đối với hành thì định
hình theo điều ấy. Nếu có khuynh
hướng tiềm tàng đối với với thức
thì định hình theo điều ấy.
Nếu không có
khuynh hướng tiềm tàng đối với
sắc
theo điều ấy. Nếu không
có khuynh hướng tiềm tàng đối
với thọ thì không định hình theo
điều ấy. Nếu không có khuynh
hướng tiềm tàng đối với tưởng
thì không định hình theo điều
ấy. Nếu không có khuynh hướng
tiềm tàng đối với hành thì không
định hình theo điều ấy. Nếu
không có khuynh hướng tiềm tàng
đối với với thức thì không định
hình theo điều ấy.Bạch Thế Tôn,
với lời nói cô đọng của Đức Thế
Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách
rộng rãi như vậy.
Này Tỳ khưu với
lời nói cô đọng này của Ta, Thầy
cần hiểu một cách rộng rãi như
vậy.
Atha kho so
bhikkhu bhagavato bhāsitaṃ
abhinanditvā anumoditvā
uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā
pakkāmi.
Atha kho so
bhikkhu eko vūpakaṭṭho appamatto
ātāpī pahitatto viharanto
nacirasseva—yassatthāya
kulaputtā sammadeva agārasmā
anagāriyaṃ pabbajanti,
tadanuttaraṃ—brahmacariyapariyosānaṃ
diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti,
vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā”ti
abbhaññāsi. Aññataro ca pana so
bhikkhu arahataṃ ahosīti.
Rồi vị tỳ khưu
ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời
dạy của Đức Thế Tôn, từ chỗ ngồi
đứng dậy, thân phía phải hướng
về Ngài rồi ra đi.
Và vị tỳ khưu ấy
sống một mình, tịnh cư, nhiệt
tâm, tinh cần, không xao lãng,
không bao lâu chứng được mục
đích mà một thiện gia nam tử
chân chánh xuất gia, từ bỏ thế
tục, sống không gia đình hướng
đến là vô thượng cứu cánh phạm
hạnh. Vị ấy ngay trong hiện tại,
tự mình với thắng trí, chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy
biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa”.
Vị tỳ khưu ấy đã
trở thành một trong những vị vô
sanh ứng cúng.
Chú Thích
Câu Phật ngôn “Yam
kho bhikkhu anuseti tena sankham
gacchati”
tương đối khó dịch. Chữ anuseti
– khuynh hướng tiềm ẩn – theo Sớ
giải chỉ cho 7 pháp tiềm miên
(anusaya) hay nói ngắn
gọn hơn là ham muốn, sân hận, si
mê. Sớ giải cũng nói rằng chính
khuynh hướng tiềm tàng là yếu tố
để gọi một người là người tham
lam, người sân độc… khi không có
khuynh hướng tiềm tàng thì không
nhận diện như vậy. Có thể hiều
nôm na “khuynh hướng tiềm ẩn tạo
nên con người”
Trong cách hiểu xa hơn thì chính
những khuynh hướng tiềm ẩn tạo
nên những con người như người
háo sắc, người cảm tính, người
hiếu động, người nặng thị hiếu…. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |