|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 01 tháng 03, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 378. LẤY THÂN BỆNH TIÊU TRỪ TÂM BỆNH- Kinh Bệnh I (Paṭhamagilānasuttaṃ). ******
Kinh Văn
74.
sāvatthinidānaṃ. atha kho
aññataro bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami ... pe ...
ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca —
“amukasmiṃ, bhante, vihāre
aññataro bhikkhu navo appaññāto
ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
sādhu, bhante, bhagavā yena so
bhikkhu tenupasaṅkamatu
anukampaṃ upādāyā”ti.
atha kho bhagavā
navavādañca sutvā gilānavādañca,
“appaññāto bhikkhū”ti iti
viditvā yena so bhikkhu
tenupasaṅkami. addasā kho so
bhikkhu bhagavantaṃ dūratova
āgacchantaṃ. disvāna mañcake
samadhosi {samañcosi (sī.),
samatesi (syā. kaṃ.), samañcopi
(pī.)} . atha kho bhagavā taṃ
bhikkhuṃ etadavoca — “alaṃ,
bhikkhu, mā tvaṃ mañcake
samadhosi. santimāni āsanāni
paññattāni, tatthāhaṃ
nisīdissāmī”ti. nisīdi bhagavā
paññatte āsane. nisajja kho
bhagavā taṃ bhikkhuṃ etadavoca —
“kacci te, bhikkhu, khamanīyaṃ,
kacci yāpanīyaṃ, kacci dukkhā
vedanā paṭikkamanti no
abhikkamanti, paṭikkamosānaṃ
paññāyati no abhikkamo”ti?
“na me, bhante,
khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ, bāḷhā
me dukkhā vedanā abhikkamanti no
paṭikkamanti, abhikkamosānaṃ
paññāyati no paṭikkamo”ti. “taggha me, bhante, anappakaṃ kukkuccaṃ, anappako vippaṭisāro”ti. “kacci pana taṃ {tvaṃ (sī.), te (syā. kaṃ. ka.)}, bhikkhu, attā sīlato upavadatī”ti? “na kho maṃ, bhante, attā sīlato upavadatī”ti {no hetaṃ bhante (pī. ka.)} . “no ce kira te, bhikkhu, attā sīlato upavadati, atha kiñca {atha kismiñca (sī.), atha bhikkhu kismiñca (syā. kaṃ. pī. ka.)} te kukkuccaṃ ko ca vippaṭisāro”ti? “na khvāhaṃ, bhante, sīlavisuddhatthaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”ti. “no ce kira tvaṃ, bhikkhu, sīlavisuddhatthaṃ mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsi, atha kimatthaṃ carahi tvaṃ, bhikkhu, mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsī”ti?
“rāgavirāgatthaṃ khvāhaṃ,
bhante, bhagavatā dhammaṃ
desitaṃ ājānāmī”ti.
“sādhu sādhu, bhikkhu! sādhu kho
tvaṃ, bhikkhu, rāgavirāgatthaṃ
mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsi.
rāgavirāgattho hi, bhikkhu, mayā
dhammo desito. taṃ kiṃ maññasi
bhikkhu, cakkhu niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti? “yaṃ ... pe ... sotaṃ... ghānaṃ... jivhā... kāyo... mano nicco vā anicco vā”ti? “anicco, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ — ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“evaṃ passaṃ, bhikkhu,
sutavā ariyasāvako cakkhusmimpi
nibbindati, sotasmimpi
nibbindati ... pe ... manasmimpi
nibbindati. nibbindaṃ virajjati;
virāgā vimuccati; vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘khīṇā
jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ,
kataṃ karaṇīyaṃ nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānātī”ti.
idamavoca bhagavā. attamano so
bhikkhu bhagavato bhāsitaṃ
abhinandi. imasmiñca pana
veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne tassa
bhikkhuno virajaṃ vītamalaṃ
dhammacakkhuṃ udapādi — “yaṃ
kiñci samudayadhammaṃ, sabbaṃ
taṃ nirodhadhamman”ti. paṭhamaṃ.
Tại Sāvatthi
Bấy giờ một vị tỳ khưu đi đến
Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi
xuống một bên và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, tại một tịnh xá
nọ, có một vị tỳ khưu mới xuất
gia, không được nhiều người biết
đến, hiện đang bệnh nặng, đau
đớn, nguy kịch. Bạch Thế Tôn,
thật diễm phúc, nếu Ngài bi mẫn
đến thăm tỳ khưu ấy.”
Khi nghe những lời “mới xuất
gia” và “bệnh nặng,” hiểu rằng
vị này không phải là một tỳ khưu
được nhiều người biết đến, Thế
Tôn liền đi đến chỗ vị ấy. Vị tỳ
khưu bệnh nhìn thấy Thế Tôn từ
xa đi tới, liền cựa quậy trên
giường. Thế Tôn bảo:
“Thôi đủ rồi, này Tỳ khưu, đừng
cựa quậy trên giường. Đã có sẵn
chỗ ngồi, ta sẽ ngồi.”
Sau khi ngồi xuống chỗ đã được
chuẩn bị, Thế Tôn nói với vị Tỳ
khưu:
“Hy vọng ông kham nhẫn được, hy
vọng Thầy đang dần bình phục.
Mong rằng những cảm thọ đau đớn
của Thầy giảm bớt chứ không gia
tăng, và có thể thấy được sự
thuyên giảm.”
Vị Tỳ khưu thưa:
“Bạch Thế Tôn, con không chịu
đựng được, con không khá lên.
Những cảm thọ đau đớn ngày càng
tăng, không hề thuyên giảm, và
con chỉ thấy sự gia tăng của
chúng.” “Bạch Thế Tôn, thực sự con có rất nhiều tiếc nuối và ân hận.” “Mong rằng ông không có gì để tự trách mình về giới hạnh.” “Bạch Thế Tôn, con không có gì để tự trách về giới hạnh.” “Vậy thì, này Tỳ-kheo, nếu ông không có gì để tự trách về giới hạnh, tại sao lại bị phiền não bởi sự tiếc nuối và ân hận?” “Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng giáo pháp không được Ngài giảng dạy chỉ vì sự thanh tịnh của giới hạnh.” “Nếu Thầy hiểu rằng giáo pháp không được ta giảng dạy chỉ vì sự thanh tịnh của giới hạnh, vậy ông hiểu giáo pháp được giảng dạy vì cứu cánh gì?” “Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng giáo pháp được Ngài giảng dạy vì mục đích đoạn diệt dục ái.” “Tốt lắm, tốt lắm, này Tỳ-kheo! Thật tốt khi Thầy hiểu giáo pháp được ta giảng dạy vì mục đích đoạn diệt dục ái. Vì giáo pháp được ta giảng dạy là để đoạn diệt dục ái. “Thầy nghĩ sao, này Tỳ khưu, mắt là thường hay vô thường?” — “Vô thường, bạch Thế Tôn.” — “Tai…., mũi…, lưỡi…, thân…, ý là thường hay vô thường?” — “Vô thường, bạch Thế Tôn.” — “Những gì vô thường là khổ hay lạc?” — “Là khổ, bạch Thế Tôn.” — “Những gì vô thường, khổ, và chịu sự biến hoại, có đáng xem là ‘cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta’ không?” — “Thưa không, bạch Thế Tôn.” “Thấy như vậy… vị ấy hiểu rằng: ‘Không còn gì nữa cho trạng thái hiện hữu này.’”
Đó là những gì Thế Tôn đã nói.
Vị Tỳ khưu phấn khởi, hoan hỷ
trong lời dạy của Thế Tôn. Và
ngay trong lúc bài pháp được
giảng, nơi vị Tỳ khưu ấy khởi
lên Pháp nhãn thanh tịnh, vô
cấu:
“Bất cứ điều gì có sanh
khởi đều sẽ hoại diệt.”
Chú Thích
Ragaviraga (đoạn diệt tham ái):
Cụm từ này gần như mang ý nghĩa
lặp lại, vì viraga tự nó đã có
nghĩa là sự vắng mặt của raga
(tham ái). Tuy nhiên, từ viraga
ban đầu có nghĩa là "sự phai
màu," vì vậy toàn bộ cụm từ có
thể được hiểu là "sự phai nhạt"
của "màu sắc" do tham ái lan
tỏa.
Sự khởi sinh của Pháp nhãn
(dhammacakkhu): Điều này có
nghĩa là đạt được một trong ba
tầng thánh đầu tiên của giác
ngộ, thường là Nhập lưu
(Sotāpanna).
Sớ Giải
74-78. gilānavaggassa paṭhame
amukasminti asukasmiṃ. ayameva
vā pāṭho. appaññātoti aññāto
apākaṭo. navopi hi koci paññāto
hoti rāhulatthero viya
sumanasāmaṇero viya ca, ayaṃ
pana navo ceva apaññāto ca.
sesamettha vuttanayamevāti.
tathā ito paresu catūsu.
Amukasminti
có nghĩa là asukasmiṃ
(ở một nơi nào đó). Đây cũng có
thể là một bản đọc khác.
Appaññāto
có nghĩa là chưa được biết đến,
không nổi tiếng. Một số vị
Tỳ-kheo dù mới xuất gia (nava)
nhưng vẫn được nhiều người biết
đến, như Tôn giả Rāhula hay sa
di Sumana. Tuy nhiên, vị Tỳ-kheo
trong trường hợp này vừa mới
xuất gia (nava) vừa không
nổi tiếng (apaññāto).
Các phần còn lại trong đoạn này
được giải thích theo cách đã nói
trước đây. Điều này cũng áp dụng
cho bốn bài tiếp theo trong phẩm
này.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
74.I. Bệnh (1)
(S.iv,46)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi...
2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tân
Tỷ-kheo ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh.
Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến Tỷ-kheo ấy vì lòng
từ mẫn.
4) Rồi Thế Tôn sau khi nghe tiếng "Mới", nghe tiếng "Bệnh",
khi biết được: "Tỷ-kheo ấy ít được người biết đến" liền đi đến
Tỷ-kheo ấy.
5) Tỷ-kheo ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, sau khi thấy, liền
gượng dậy trên giường.
6) Thế Tôn liền nói với Tỷ-kheo ấy:
-- Thôi! Này Tỷ-kheo, Ông chớ có gượng dậy trên giường. Có
những chỗ ngồi đã soạn sẵn, tại đấy Ta sẽ ngồi.
Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn.
7) Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy:
-- Này Tỷ-kheo, Ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu
đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng?
Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?
-- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu
đựng. Mãnh liệt là khổ thọ con cảm giác! Chúng tăng trưởng,
không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm
thiểu.
8) -- Này Tỷ-kheo, mong rằng Ông không có gì nghi ngờ, không
có gì hối hận.
-- Bạch Thế Tôn, chắc chắn con không có gì nghi ngờ, không
có gì hối hận.
9) -- Nhưng đối với giới của mình, Ông có gì tự khiển trách
không?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
10) -- Này Tỷ-kheo, nếu đối với giới của mình Ông không có
gì để khiển trách, thời này Tỷ-kheo, Ông thế nào cũng có nghi
ngờ đối với vấn đề gì, cũng có hối hận gì.
-- Bạch Thế Tôn, con không hiểu pháp Thế Tôn dạy về mục đích
thanh tịnh trì giới.
11) -- Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục
đích thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy
như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp do Thế Tôn dạy là tham và
đoạn tham.
12) -- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này
Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là tham và đoạn tham. Với mục đích
tham và đoạn tham, này Tỷ-kheo, là pháp Ta dạy.
13) Ông nghĩ thế nào, này Tỷ-kheo, mắt là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn...
-- Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng
nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này
là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
14) -- Thấy vậy, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm
chán đối với mắt... "... không còn trở lui trạng thái này nữa".
15) Thế Tôn thuyết như vậy, Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời
Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, Tỷ-kheo ấy
khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: "Phàm cái gì sanh khởi, tất
cả đều chịu sự đoạn diệt".
-ooOoo- |