|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 04 tháng 03, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 379. VƯỢT KHỎI MỌI SỞ CHẤP- Kinh Bệnh II (Dutiyagilānasuttaṃ). ******
Niết bàn đồng nghĩa với diệt đế (nirodhasacca). Trong
ngôn ngữ của tứ đế, theo cách
nói của trần gian, là sự dập tắt
khát ái (taṇhā) Diệt ái là niết
bàn. Niết bàn còn hàm nghĩa là
không còn khao khát. Tên gọi vô
thủ trước niết bàn bao gồm sự
không còn chấp trước dù là “ai
chứng”, và “chứng đắc được gì”.
Tương tự như trong cuộc sống,
khi nói đến cảnh giới chí thiện,
người ta không còn mảy may bận
tâm đến ý niệm “mình là người
làm chuyện tốt” hay “mình đạt
được điều tốt nầy điều tốt kia”.
Đó là cách diễn đạt gần nhất của
khái niệm “vô thủ trước niết
bàn”
Kinh Văn
75.
atha kho aññataro bhikkhu ... pe
... bhagavantaṃ etadavoca —
“amukasmiṃ, bhante, vihāre
aññataro bhikkhu navo appaññāto
ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
sādhu, bhante, bhagavā yena so
bhikkhu tenupasaṅkamatu
anukampaṃ upādāyā”ti.
atha
kho bhagavā navavādañca sutvā
gilānavādañca, “appaññāto
bhikkhū”ti iti viditvā yena so
bhikkhu tenupasaṅkami. addasā
kho so bhikkhu bhagavantaṃ
dūratova āgacchantaṃ. disvāna
mañcake samadhosi. atha kho
bhagavā taṃ bhikkhuṃ etadavoca —
“alaṃ, bhikkhu, mā tvaṃ mañcake
samadhosi. santimāni āsanāni
paññattāni, tatthāhaṃ
nisīdissāmī”ti. nisīdi bhagavā
paññatte āsane. nisajja kho
bhagavā taṃ bhikkhuṃ etadavoca —
“kacci te, bhikkhu, khamanīyaṃ,
kacci yāpanīyaṃ, kacci dukkhā
vedanā paṭikkamanti no
abhikkamanti, paṭikkamosānaṃ
paññāyati no abhikkamo”ti? “no ce kira te, bhikkhu, attā sīlato upavadati, atha kiñca te kukkuccaṃ ko ca vippaṭisāro”ti? “na khvāhaṃ, bhante, sīlavisuddhatthaṃ bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”ti. “no ce kira tvaṃ, bhikkhu, sīlavisuddhatthaṃ mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsi, atha kimatthaṃ carahi tvaṃ, bhikkhu, mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsī”ti? “anupādāparinibbānatthaṃ khvāhaṃ, bhante, bhagavatā dhammaṃ desitaṃ ājānāmī”ti. “sādhu sādhu, bhikkhu! sādhu kho tvaṃ, bhikkhu, anupādāparinibbānatthaṃ mayā dhammaṃ desitaṃ ājānāsi. anupādāparinibbānattho hi, bhikkhu, mayā dhammo desito. “taṃ kiṃ maññasi, bhikkhu, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ ... pe ... sotaṃ... ghānaṃ... jivhā... kāyo... mano... manoviññāṇaṃ... manosamphasso... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti? “aniccaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti? “dukkhaṃ, bhante”. “yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ — ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti? “no hetaṃ, bhante”.
“evaṃ
passaṃ, bhikkhu, sutavā
ariyasāvako cakkhusmimpi
nibbindati ... pe ...
manasmimpi... manoviññāṇepi...
manosamphassepi nibbindati.
yampidaṃ manosamphassapaccayā
uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā
dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā
tasmimpi nibbindati. nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti.
idamavoca
bhagavā. attamano so bhikkhu
bhagavato bhāsitaṃ abhinandi.
imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṃ
bhaññamāne tassa bhikkhussa
anupādāya āsavehi cittaṃ
vimuccīti {vimuccatīti
(sabbattha)} . dutiyaṃ.
Tại Sāvatthi
Bấy giờ một vị tỳ khưu đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, tại một tịnh xá nọ, có một vị tỳ khưu mới xuất gia, không
được nhiều người biết đến, hiện
đang bệnh nặng, đau đớn, nguy
kịch. Bạch Thế Tôn, thật diễm
phúc, nếu Ngài bi mẫn đến thăm
tỳ khưu ấy.”
Khi nghe những lời “mới xuất gia” và “bệnh nặng,” hiểu rằng vị này không
phải là một tỳ khưu được nhiều
người biết đến, Thế Tôn liền đi
đến chỗ vị ấy. Vị tỳ khưu bệnh
nhìn thấy Thế Tôn từ xa đi tới,
liền cựa quậy trên giường. Thế
Tôn bảo:
“Thôi đủ rồi, này Tỳ khưu, đừng cựa quậy trên giường. Đã có sẵn chỗ ngồi,
ta sẽ ngồi.”
Sau khi ngồi xuống chỗ đã được chuẩn bị, Thế Tôn nói với vị Tỳ khưu:
“Hy vọng ông kham nhẫn được, hy vọng Thầy đang dần bình phục. Mong rằng
những cảm thọ đau đớn của Thầy
giảm bớt chứ không gia tăng, và
có thể thấy được sự thuyên
giảm.”
Vị Tỳ khưu thưa: “Vậy thì, này Tỳ-kheo, mong rằng ông không bị phiền não bởi sự hối hận và ân hận.” “Bạch Thế Tôn, thực sự con có rất nhiều tiếc nuối và ân hận.” “Mong rằng ông không có gì để tự trách mình về giới hạnh.” “Bạch Thế Tôn, con không có gì để tự trách về giới hạnh.” “Vậy thì, này Tỳ-kheo, nếu ông không có gì để tự trách về giới hạnh, tại sao lại bị phiền não bởi sự tiếc nuối và ân hận?” “Bạch Thế Tôn, thực sự con có rất nhiều tiếc nuối và ân hận.” “Mong rằng ông không có gì để tự trách mình về giới hạnh.” “Bạch Thế Tôn, con không có gì để tự trách về giới hạnh.” “Vậy thì, này Tỳ-kheo, nếu ông không có gì để tự trách về giới hạnh, tại sao lại bị phiền não bởi sự tiếc nuối và ân hận?” “Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng giáo pháp không được Ngài giảng dạy chỉ vì sự thanh tịnh của giới hạnh.” “Nếu Thầy hiểu rằng giáo pháp không được ta giảng dạy chỉ vì sự thanh tịnh của giới hạnh, vậy ông hiểu giáo pháp được giảng dạy vì cứu cánh gì?” “Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng giáo pháp được Ngài giảng dạy vì mục đích tối hậu là vô thủ trước niết bàn”. “Tốt lắm, tốt lắm, này Tỳ-kheo! Thật tốt khi Thầy hiểu giáo pháp được ta giảng dạy vì giảng dạy vì mục đích tối hậu là vô thủ trước niết bàn” “Thầy nghĩ sao, này Tỳ khưu, mắt là thường hay vô thường?” — “Vô thường, bạch Thế Tôn.” — “Tai…., mũi…, lưỡi…, thân…, ý là thường hay vô thường?” — “Vô thường, bạch Thế Tôn.” — “Những gì vô thường là khổ hay lạc?” — “Là khổ, bạch Thế Tôn.” — “Những gì vô thường, khổ, và chịu sự biến hoại, có đáng xem là ‘cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta’ không?” — “Thưa không, bạch Thế Tôn.” “Thấy như vậy… vị ấy hiểu rằng: ‘Không còn gì nữa cho trạng thái hiện hữu này.’” Đó là những gì Thế Tôn đã dạy. Vị Tỳ khưu phấn khởi, hoan hỷ trong lời dạy của Thế Tôn. Và ngay trong lúc bài pháp được giảng, tâm của vị Tỳ khưu ấy giải thoát khỏi các lậu hoặc nhờ sự không chấp thủ.
Chú Thích
Bài kinh nẩy phần lớn giống bài kinh trước chỉ khác là thay vì mục đích
đoạn tận dục niệm thì thay thế
bằng “vô thủ trước niết bàn”.
Theo nhiều học giả thì khi sự
việc xẩy ra lời nói có thể khác
biệt trong cách hành văn nhưng ý
nghĩa giống nhau thì Tôn giả
Ananda và Tôn giả Upāli khi kết
tập cách hành văn giống nhau.
Điều nầy tốt cho sự ghi nhớ và
tụng đọc. Đây là đặc điểm của
văn học truyền khẩu.
Anupadaparinibbāna - vô thủ trước niết bàn – là cách nói đặc biệt chỉ cho
“diệt đế” vốn
vượt trên mọi chấp thủ kể
cả ý niệm “ta chứng” và “sở
chứng của ta”. Nói cách khác là
không còn mảy may ái chấp, mạn
chấp, và kiến chấp.
Điều này có thể giải thích (ít nhất một phần) lý do tại sao vị tỳ khưu
trong bài kinh này chứng đắc
A-la-hán, trong khi vị tỳ khưu
trong bài kinh trước chỉ đạt
được Pháp nhãn (nhập lưu –
Sotāpatti).
Sớ Giải
74-78. gilānavaggassa paṭhame amukasminti asukasmiṃ. ayameva
vā pāṭho. appaññātoti aññāto
apākaṭo. navopi hi koci paññāto
hoti rāhulatthero viya
sumanasāmaṇero viya ca, ayaṃ
pana navo ceva apaññāto ca.
sesamettha vuttanayamevāti.
tathā ito paresu catūsu.
Amukasminti có nghĩa là asukasmiṃ (ở một nơi nào đó). Đây cũng có thể là một bản đọc
khác.
Appaññāto có nghĩa là chưa được biết đến, không
nổi tiếng. Một số vị Tỳ-kheo dù
mới xuất gia (nava) nhưng
vẫn được nhiều người biết đến,
như Tôn giả Rāhula hay sa di
Sumana. Tuy nhiên, vị tỳ khưu
trong trường hợp này vừa mới
xuất gia (nava) vừa không
nổi tiếng (apaññāto).
Các phần còn lại trong đoạn này được giải
thích theo cách đã nói trước
đây. Điều này cũng áp dụng cho
bốn bài tiếp theo trong phẩm
này.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
75.II. Bệnh (2)
(S.iv,47)
1-10) (Hoàn toàn giống như kinh trước).
11) -- Này Tỷ-kheo, nếu Ông không hiểu pháp Ta dạy về mục đích
thanh tịnh trì giới, thời này Tỷ-kheo, Ông hiểu pháp Ta dạy như
thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, con hiểu pháp Thế Tôn dạy là với mục đích tịch
tịnh hoàn toàn, không chấp thủ.
12) -- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này
Tỷ-kheo! Ông hiểu pháp Ta dạy là với mục đích tịch tịnh hoàn
toàn, không có chấp thủ.
13-14) (Như kinh trước)
15) Thế Tôn thuyết như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Thế
Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, tâm Tỷ-kheo ấy
được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.
-ooOoo- |