|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 29 tháng 03, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 390. LẤY THƯỚC MÀ ĐO LÒNG NGƯỜI- Kinh Cặp Bài Trùng I & II (Paṭhamadvayasuttaṃ) (Dutiyadvayasuttaṃ). ******
Tâm thức vốn vô chừng, biến
đổi, khó đoán. Bời vì tâm sanh
chịu ảnh hưởng căn và cảnh. Mà
cảnh của thế gian trùng trùng
duyên khởi. Thế giới được tiếp
nhận vào lòng qua các căn môn.
Tác nhân vốn bất toàn thì tác
phẩm không thể hoàn hảo. Ai sống
giữa cuộc trầm luân mà nghĩ rằng
có thể khiến tâm độc lập với
cảnh là ảo tưởng.
Kinh Văn
92.
Kinh Cặp Bài Trùng I
92. “dvayaṃ vo, bhikkhave, desessāmi. taṃ suṇātha. kiñca,
bhikkhave, dvayaṃ? cakkhuñceva
rūpā ca, sotañceva saddā ca,
ghānañceva gandhā ca, jivhā ceva
rasā ca, kāyo ceva phoṭṭhabbā
ca, mano ceva dhammā ca — idaṃ
vuccati, bhikkhave, dvayaṃ.
“yo, bhikkhave, evaṃ
vadeyya — ‘ahametaṃ dvayaṃ
paccakkhāya aññaṃ dvayaṃ
paññapessāmī’ti, tassa
vācāvatthukamevassa. puṭṭho ca
na sampāyeyya. uttariñca
vighātaṃ āpajjeyya. taṃ kissa
hetu? yathā taṃ, bhikkhave,
avisayasmin”ti. navamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng cho các thầy về cặp bài trùng. Hãy lắng …
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là bài trùng? Mắt và sắc, tai và tiếng, mũi
và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc
chạm, ý và cảnh pháp — đó được
gọi là bài trùng.
“Này các Tỳ-khưu, nếu có ai nói rằng: ‘Tôi sẽ từ bỏ cặp bài trùng này và
trình bày một cặp bài trùng
khác’ — thì đó chỉ là lời khoe
khoang trống rỗng. Nếu bị chất
vấn, người ấy sẽ không thể trả
lời, và hơn nữa, sẽ gặp phải
phiền não và bối rối. Vì sao
vậy? Này các Tỳ-khưu, bởi vì
điều đó không thuộc lĩnh vực
hiểu biết của người ấy.”
93. Kinh Cặp Bài
Trùng II
93. “dvayaṃ, bhikkhave, paṭicca viññāṇaṃ sambhoti. kathañca,
bhikkhave, dvayaṃ paṭicca
viññāṇaṃ sambhoti? cakkhuñca
paṭicca rūpe ca uppajjati
cakkhuviññāṇaṃ. cakkhu aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi. rūpā
aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ
calañceva byathañca aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi.
cakkhuviññāṇaṃ aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi. yopi
hetu yopi paccayo
cakkhuviññāṇassa uppādāya, sopi
hetu sopi paccayo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ
kho pana, bhikkhave, paccayaṃ
paṭicca uppannaṃ cakkhuviññāṇaṃ
kuto niccaṃ bhavissati! yā kho,
bhikkhave, imesaṃ tiṇṇaṃ
dhammānaṃ saṅgati sannipāto
samavāyo, ayaṃ vuccati
cakkhusamphasso.
cakkhusamphassopi anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. yopi
hetu yopi paccayo
cakkhusamphassassa uppādāya,
sopi hetu sopi paccayo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ
kho pana, bhikkhave, paccayaṃ
paṭicca uppanno cakkhusamphasso
kuto nicco bhavissati! phuṭṭho,
bhikkhave, vedeti, phuṭṭho
ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
itthetepi dhammā calā ceva
byathā ca aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. sotaṃ ... pe
....
“jivhañca paṭicca
rase ca uppajjati jivhāviññāṇaṃ.
jivhā aniccā vipariṇāmī
aññathābhāvī {vipariṇāminī
aññathābhāvinī (?)} . rasā
aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ
calañceva byathañca aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi.
jivhāviññāṇaṃ aniccaṃ vipariṇāmi
aññathābhāvi. yopi hetu yopi
paccayo jivhāviññāṇassa
uppādāya, sopi hetu sopi paccayo
anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
aniccaṃ kho pana, bhikkhave,
paccayaṃ paṭicca uppannaṃ
jivhāviññāṇaṃ, kuto niccaṃ
bhavissati! yā kho, bhikkhave,
imesaṃ tiṇṇaṃ dhammānaṃ saṅgati
sannipāto samavāyo, ayaṃ vuccati
jivhāsamphasso. jivhāsamphassopi
anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
yopi hetu yopi paccayo
jivhāsamphassassa uppādāya, sopi
hetu sopi paccayo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ
kho pana, bhikkhave, paccayaṃ
paṭicca uppanno jivhāsamphasso,
kuto nicco bhavissati! phuṭṭho,
bhikkhave, vedeti, phuṭṭho
ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
itthetepi dhammā calā ceva
byathā ca aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. kāyaṃ ... pe
....
“manañca paṭicca
dhamme ca uppajjati
manoviññāṇaṃ. mano anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. dhammā
aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. itthetaṃ dvayaṃ
calañceva byathañca aniccaṃ
vipariṇāmi aññathābhāvi.
manoviññāṇaṃ aniccaṃ vipariṇāmi
aññathābhāvi. yopi hetu yopi
paccayo manoviññāṇassa uppādāya,
sopi hetu sopi paccayo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ
kho pana, bhikkhave, paccayaṃ
paṭicca uppannaṃ manoviññāṇaṃ,
kuto niccaṃ bhavissati! yā kho,
bhikkhave, imesaṃ tiṇṇaṃ
dhammānaṃ saṅgati sannipāto
samavāyo, ayaṃ vuccati
manosamphasso. manosamphassopi
anicco vipariṇāmī aññathābhāvī.
yopi hetu yopi paccayo
manosamphassassa uppādāya, sopi
hetu sopi paccayo anicco
vipariṇāmī aññathābhāvī. aniccaṃ
kho pana, bhikkhave, paccayaṃ
paṭicca uppanno manosamphasso,
kuto nicco bhavissati! phuṭṭho,
bhikkhave, vedeti, phuṭṭho
ceteti, phuṭṭho sañjānāti.
itthetepi dhammā calā ceva
byathā ca aniccā vipariṇāmino
aññathābhāvino. evaṃ kho,
bhikkhave, dvayaṃ paṭicca
viññāṇaṃ sambhotī”ti. dasamaṃ.
“Này các Tỳ-khưu, thức khởi lên tùy thuộc vào một cặp bài trùng. Và thế
nào là thức khởi lên tùy thuộc
vào một cặp bài trùng? Tùy thuộc
vào mắt và sắc, nhãn thức khởi
lên. Mắt là vô thường, biến đổi,
trở thành khác; sắc là vô
thường, biến đổi, trở thành
khác. Như vậy, cặp bài trùng này
là chuyển động và dao động, vô
thường, biến đổi, trở thành
khác.
Nhãn thức là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên để khởi
lên nhãn thức cũng là vô thường,
biến đổi, trở thành khác. Này
các Tỳ-khưu, khi nhãn thức khởi
lên do tùy thuộc vào điều kiện
vô thường, thì làm sao nó có thể
là thường hằng?
Sự gặp gỡ, sự tương tác, sự kết hợp của ba yếu tố này được gọi là xúc của
mắt (nhãn xúc). Nhãn xúc cũng là
vô thường, biến đổi, trở thành
khác. Nhân và duyên cho sự khởi
lên của nhãn xúc cũng là vô
thường, biến đổi, trở thành
khác. Này các Tỳ-khưu, khi nhãn
xúc khởi lên tùy thuộc vào điều
kiện vô thường, thì làm sao nó
có thể là thường hằng?
Này các Tỳ-khưu, khi có xúc thì cảm thọ khởi lên, khi có xúc thì ý định
khởi lên, khi có xúc thì tưởng
khởi lên. Như vậy, những pháp
này cũng là chuyển động và dao
động, vô thường, biến đổi, trở
thành khác.
Tùy thuộc vào tai và tiếng, nhĩ thức khởi lên …
… Tùy thuộc vào ý và cảnh, ý thức khởi lên. Ý là vô thường, biến đổi, trở
thành khác; cảnh pháp là vô
thường, biến đổi, trở thành
khác. Như vậy, cặp bài trùng này
là chuyển động và dao động, vô
thường, biến đổi, trở thành
khác.
Ý thức là vô thường, biến đổi, trở thành khác. Nhân và duyên cho sự khởi
lên của ý thức cũng là vô
thường, biến đổi, trở thành
khác. Này các Tỳ-khưu, khi ý
thức khởi lên do điều kiện vô
thường, thì làm sao nó có thể là
thường hằng?
Sự gặp gỡ, tương tác, và kết hợp của ba yếu tố này được gọi là ý xúc. Ý
xúc cũng là vô thường, biến đổi,
trở thành khác. Nhân và duyên
cho sự khởi lên của ý xúc cũng
là vô thường, biến đổi, trở
thành khác. Này các Tỳ-khưu, khi
ý xúc khởi lên tùy thuộc vào
điều kiện vô thường, thì làm sao
nó có thể là thường hằng?
Này các Tỳ-khưu, khi có xúc thì cảm thọ khởi lên, khi có xúc thì ý định
khởi lên, khi có xúc thì tưởng
khởi lên. Như vậy, những pháp
này cũng là chuyển động và dao
động, vô thường, biến đổi, trở
thành khác.
Này các Tỳ-khưu, chính theo cách này mà thức khởi lên tùy thuộc vào một
cặp bài trùng.”
Chú Thích
Các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác theo
Phật Pháp thì luôn bị chi phối
bởi hai yếu tố là căn và cảnh.
Trong lúc căn sanh khởi do
nghiệp quá khứ thì cảnh tốt xấu
cũng do nghiệp. Trường hợp của ý
và cảnh pháp khác: có thể là quả
hoặc nhân hay không phải cả hai.
Sự tương thích mật thiết giữa
căn và cảnh là bí ẩn lớn của
cuộc sống. Thí dụ các trú căn
của chúng sanh chỉ thích hợp với
cảnh nào đó. Cùng là sầu riêng
có người xem là “được ăn” lại có
kẻ xem là “bị ăn”.
Hai bài kinh nầy nói về tâm thức luôn bị chi phối bởi các cặp bài trùng
như nhãn thức tạo thành do mắt
và cảnh sắc. Khi cặp bài trùng
đó “giao động và đổi thay” thì
thị giác cũng mang bản chất
tương tự. Đó là áo nghĩa của vô
thường, khổ não, vô ngã.
Bản Sớ Giải ghi rằng:"Calañ c’eva byathañ ca” nghĩa là 'chuyển động và dao
động', bởi vì tự tánh của pháp
là không kiên cố, nên nó chuyển
động và dao động."
Hậu Sớ Giải thì chú thích: "Byathati nghĩa là nó run rẩy do tuổi già và
cái chết."
So sánh thêm với từ điển MW (Monier-Williams), mục từ vyath – nghĩa là:
"run rẩy, dao động, tiêu tan,
thất bại".
Câu Phật ngôn: “Phuṭṭho bhikkhave vedeti, phuṭṭho ceteti, phuṭṭho
sañjānāti.
"Này các Tỳ-khưu, khi có xúc chạm thì thọ sinh khởi, khi có xúc thì tư
sinh khởi, khi có xúc thì tưởng
sinh khởi." Như vậy, đối với mỗi căn (xứ) vật lý, năm uẩn đều được giới thiệu đầy đủ: Căn và cảnh thuộc về sắc uẩn (rūpakkhandha), Thức tương ứng là thức uẩn (viññāṇakkhandha), Ba uẩn còn lại (cảm thọ, hành, tưởng) phát sinh từ xúc (phassa). Trong trường hợp của ý căn, thì trú căn của tâm (vatthu) cũng được cộng luôn.
Sớ Giải
92-93. navame dvayanti dve dve koṭṭhāse. dasame itthetaṃ
dvayanti evametaṃ dvayaṃ.
calañceva byathañcāti attano
sabhāvena asaṇṭhahanato calati
ceva byathati ca. yopi hetu yopi
paccayoti cakkhuviññāṇassa
vatthārammaṇaṃ hetu ceva paccayo
ca. kuto niccaṃ bhavissatīti
kena kāraṇena niccaṃ bhavissati.
yathā pana dāsassa dāsiyā
kucchismiṃ jāto putto parova
dāso hoti, evaṃ aniccameva
hotīti attho. saṅgatīti
sahagati. sannipātoti ekato
sannipatanaṃ. samavāyoti ekato
samāgamo. ayaṃ vuccati
cakkhusamphassoti iminā
saṅgatisannipātasamavāyasaṅkhātena
paccayena uppannattā
paccayanāmeneva saṅgati
sannipāto samavāyoti ayaṃ
vuccati cakkhusamphasso. ♦ sopi
hetūti phassassa vatthu
ārammaṇaṃ sahajātā tayo
khandhāti ayaṃ hetu. phuṭṭhoti
upayogatthe paccattaṃ, phassena
phuṭṭhameva gocaraṃ vedanā
vedeti, cetanā ceteti, saññā
sañjānātīti attho. phuṭṭhoti vā
phassasamaṅgīpuggalo, phassena
phuṭṭhārammaṇameva vedanādīhi
vedeti ceteti sañjānātītipi
vuttaṃ hoti. iti imasmiṃ sutte
samatiṃsakkhandhā kathitā honti.
kathaṃ? cakkhudvāre tāva vatthu
ceva ārammaṇañca rūpakkhandho,
phuṭṭho vedetīti vedanākkhandho,
cetetīti saṅkhārakkhandho,
sañjānātīti saññākkhandho,
vijānātīti viññāṇakkhandhoti.
sesadvāresupi eseva nayo.
manodvārepi hi vatthurūpaṃ
ekantato rūpakkhandho, rūpe pana
ārammaṇe sati ārammaṇampi
rūpakkhandhoti cha pañcakātiṃsa
honti. saṅkhepena panete chasupi
dvāresu pañceva khandhāti
sapaccaye pañcakkhandhe aniccāti
vitthāretvā vuccamāne
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena idaṃ
suttaṃ desitanti.
92–93. “Cặp đôi” (Dvaya)
Navame dvayanti: Trong bài kinh thứ chín, từ “cặp đôi”
(dvaya) có nghĩa là “cặp bài
trùng”.
Dasame itthetaṃ dvayanti: Ở Kinh
thứ mười, nói rằng “cặp đôi là
như vậy”, ý chỉ cặp đôi được
giải thích như thế.
“Calañ c’eva byathañ ca”: Câu này
nghĩa là “chuyển động và dao
động”. Vì bản chất của pháp là
không vững bền, nên nó vừa
chuyển động vừa dao động.
Yopi hetu yopi paccayo: “Cái gì
là nhân, cái gì là duyên” – tức
là mắt và sắc làm nhân và duyên
cho nhãn thức.
“Kuto niccaṃ bhavissati?” – Làm sao
nó có thể thường hằng? Nghĩa là
với lý do gì mà nó lại có thể
thường hằng?
Ví dụ: Như một đứa trẻ sinh ra từ bụng của một nữ nô lệ, thì nó cũng là nô
lệ giống cha mẹ – tương tự như
vậy, mọi pháp phát sinh từ vô
thường thì bản thân nó cũng vô
thường. Đây là ý nghĩa.
Về “Xúc” (Phassa):
Saṅgati: là sự đồng hành (sahagati).
Ba yếu tố này – gặp gỡ, tụ họp, tương tác – được gọi là nhãn xúc
(cakkhu-samphassa). Do sự sinh
khởi của chúng dựa vào điều kiện
như vậy, nên xúc có tên là
saṅgati, sannipāta, và samavāya.
Sopi hetu – “Xúc cũng là nhân”:
Khi xúc chạm, thì các pháp như:
Cũng có thể hiểu "phuṭṭho" là người được xúc chạm, tức là chúng sinh đang
trải nghiệm, người ấy nhận biết
đối tượng qua ba yếu tố: cảm
thọ, tác ý, và tưởng.
Trong bài kinh này, ba mươi uẩn (sattiṃsa khandhā) được trình bày rõ ràng.
Cách phân tích như sau:
Ở nhãn môn (cakkhudvāra):
→ Tổng cộng, có sáu môn và ba mươi uẩn (5 uẩn × 6 xứ) – gọi là cha
pañcakātiṃsa.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
92. IX. Cả Hai (S.iv,67)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả
hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là cả hai?
3) Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương,
lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là cả hai.
4) Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Sau khi đoạn tận
hai cái này, tôi sẽ trình bày hai cái khác"; thời người
ấy chỉ nói suông, nếu hỏi, người ấy không có thể chứng
minh, còn có thể rơi vào ách nạn.
5) Vì sao? Vì rằng vấn đề ấy vượt ngoài phạm vi của
người ấy.
93. X. Cả Hai
(S.iv,67)
1) ...
2) -- Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện
hữu?
3) Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là
vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô
thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này
là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh
đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi
khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên;
nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi
khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một
duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này
các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp
này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng
vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do
duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô
thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo,
nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ
trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc
nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp
này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự
tánh đổi khác.
4) Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức...
5) Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức...
6) Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức...
7) Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức...
8) Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô
thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô
thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái
này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự
tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh
đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức
khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự
tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên
vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các
Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này,
này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường,
biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì
khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường,
biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi
lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được?
Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư
lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là
biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi
khác.
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện
hữu. |