LỚP PHẬT PHÁP BUDDHADHAMA 

BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Hai, ngày 02, tháng 03, 2026

Sinh hoạt đặc biệt-TƯỞNG NIỆM SƯ TRƯỞNG- Pháp Sư Giác Chánh

 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Su-Truong-Giac-Chanh.jpg

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đạo từ của Hoà thượng Tuệ Siêu
Nghi thức cầu nguyện
Cung tuyên tiểu sử
Những chia sẻ của chư vị giảng sư

TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC CHÁNH

Hòa thượng Giác Chánh sinh năm 1947 tại Vĩnh Long, thế danh Phạm Văn Chánh, thân phụ cụ Phạm Văn Trị (1904–1996), thân mẫu cụ Nguyễn Thị Hai (1910–1966). Năm 1967, sau khi lập gia đình với bà Nguyễn Thị Mười và có một người con gái, Ngài phát tâm xuất gia theo Hòa thượng Tịnh Sự tại chùa Viên Giác (Long Hồ, Vĩnh Long), chuyên tâm học A-Tỳ-Đàm trong nhiều năm.

Từ 1970–1975, Ngài trải qua các giai đoạn tu học và hành trì quan trọng: theo thầy ra Hòn Nghệ (Kiên Giang) tu thiền trong hoàn cảnh “một thầy một trò”; sau đó học Tứ Niệm Xứ với Hòa thượng Giới Nghiêm tại chùa Tam Bảo (Vũng Tàu), rồi theo học tại Phật Học Viện Phật Bảo. Trong thời kỳ này, Ngài hoằng pháp và trước tác nhiều tác phẩm như Pháp Âm, Pháp Thừa, Chánh Đạo Ngâm Khúc, Vi Diệu Pháp Nhập Môn…

Năm 1976, Ngài cùng Hòa thượng Thiện Pháp vào rừng Bình Sơn dựng chùa Thiền Quang (mái tranh vách đất), đào tạo gần 20 sa di và giới tử, hình thành một thế hệ Tăng trẻ có ảnh hưởng sâu rộng về sau. Dù hoàn cảnh 1977–1980 hết sức khó khăn, việc giảng dạy A-Tỳ-Đàm vẫn được duy trì đều đặn; đồng thời Ngài tham gia tổ chức Ban Hoằng Pháp với nề nếp khảo hạch và đào tạo nghiêm minh.

Cuối năm 1981, do nhiều duyên sự, hoạt động Ban Hoằng Pháp đình chỉ. Sau một mùa an cư tại chùa Bửu Long, Ngài nhận đất cúng dường tại Long Thành và xây dựng chùa Thiền Quang II (từ đó chùa rừng cũ được gọi là Thiền Quang I).

Đầu 1983, Ngài phát động phong trào học thuộc Tam Tạng Pāli và tổ chức thi trùng tụng định kỳ; đến 1987, tiếp tục khởi xướng phong trào phiên dịch kinh điển từ tiếng Anh và tiếng Thái, góp phần dịch và phổ biến rộng rãi nhiều giáo trình A-Tỳ-Đàm, đặc biệt cả những phần liên hệ Luật tạng.

Từ 1989, Ngài về xây dựng và trụ trì chùa Bửu Đức (Biên Hòa), duy trì giảng pháp thường kỳ, dần lui khỏi công việc giáo hội để chuyên tâm trước tác và tu tập. Ngài biên soạn trường thi Phật Sử Diễn Ca (sau tái bản với tựa Đấng Thiên Nhân Sư Gotama), dành nhiều thời gian nghiên cứu Niệm Xứ, và từ 2005 chú tâm san định Thanh Tịnh Đạo và Vô Ngại Giải Đạo (đến lúc viên tịch vẫn chưa kịp ấn hành). Ngài cũng tham gia giảng dạy qua Paltalk, và ghi lại kinh nghiệm hành trì trong tập nội bộ Chiếu Kiến Nghiệp Xứ (khoảng 400 trang).

Hòa thượng sống 74 năm, với khoảng 50 năm trong đời sống xuất gia. Tâm nguyện lớn của Ngài không nằm ở việc kiến tạo chùa chiền, mà ở đào tạo Tăng tài và xiển dương giáo pháp, đặc biệt A-Tỳ-Đàm và Tứ Niệm Xứ. Ngài để lại nhiều pháp hữu và học trò tiếp nối, cùng nhiều đạo tràng do Ngài trực tiếp hoặc gián tiếp khai sơn, tiếp nhận và nâng đỡ cho mục đích hoằng truyền Phật Pháp.

Ngài đã đi xa, nhưng ánh sáng giáo pháp và dấu ấn giáo dục Tăng tài mà Ngài để lại vẫn còn hiện hữu, như ngọn đèn bền bỉ giữa đêm dài, sưởi ấm và soi đường cho những người hữu duyên.

o0o