|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 05 tháng 03, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 620.CÁC QUYỀN VÀ CHƯ VỊ A LA HÁN - Kinh Đông Phương Tự II, III, IV (Paṭhamapubbārāmasuttaṃ) .
Trong giáo lý của Đức Phật, năm căn
(pañcindriyāni) hay còn gọi là năm quyền gồm: tín, tấn, niệm,
định, tuệ. Đây không chỉ là những yếu tố hỗ trợ cho người đang
bước đi trên con đường tu tập, mà còn là những năng lực tâm linh
nền tảng hiện hữu nơi các bậc đã hoàn toàn giải thoát. Vì vậy,
năm căn không phải chỉ là phương tiện của hành giả sơ học, mà
còn là cấu trúc nội tại của tâm giác ngộ.
Khi đã đạt đến quả vị A-la-hán, năm căn
ấy vẫn hiện hữu như những năng lực đã viên mãn. Tuy nhiên, sự
sai biệt trong quả chứng của chư vị A-la-hán—như giữa bậc câu
phần giải thoát (ubhatobhāgavimutta) và bậc tuệ giải thoát
(paññāvimutta)—cũng phản ánh sự khác biệt trong sự trội thắng
của các căn. Ở bậc câu phần giải thoát, định lực được phát triển
thâm sâu đến mức chứng đạt các tầng thiền vô sắc và các giải
thoát định, nên định căn hiển lộ mạnh mẽ cùng với tuệ căn. Ngược
lại, ở bậc tuệ giải thoát, trí tuệ trực quán nổi bật hơn; dù
định vẫn đầy đủ để chứng quả, nhưng tuệ căn là yếu tố vượt trội
con đường giải thoát. Như vậy, năm căn vừa là nền móng của hành
trình tu tập, vừa là cấu trúc năng lực của tâm đã giải thoát. Sự
sai biệt nơi các bậc A-la-hán không nằm ở mục tiêu, vì tất cả
đều đã đoạn tận lậu hoặc, mà nằm ở cách các căn được phát triển
và biểu hiện.
Kinh Văn
Kinh Đông Phương Tự II
Cũng trong duyên sự tương tự.
“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu
đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí giải thoát tối hậu như
sau: ‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”
“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm
người lãnh đạo….”
“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập hai căn mà một vị Tỳ
khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.
Hai căn ấy là gì? Thánh trí và thánh giải thoát.
Vì thánh trí của vị ấy chính là tuệ căn,
Này các Tỳ khưu, chính vì hai căn này đã được phát triển và tu tập mà một
vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như
sau:
‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong,
không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”
Kinh Đông Phương Tự
III
Cũng trong duyên sự tương tự.
“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu
đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau: ‘Ta hiểu
rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong,
không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”
“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản….”
“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập bốn căn mà một vị Tỳ
khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.
Bốn căn ấy là gì?
Này các Tỳ khưu, chính vì bốn căn này đã được phát triển và tu tập mà một
vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như
sau:
‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong,
không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”
Kinh Đông Phương Tự
IV
Cũng trong duyên sự tương tự.
“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu
đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau:
‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong,
không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”
“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản….”
“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập năm căn mà một vị Tỳ
khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.
Năm căn ấy là gì?
Này các Tỳ khưu, chính vì năm căn này đã được phát triển và tu tập mà một
vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như
sau: ‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”
Chú Thích
Theo Sớ giải các căn trong những bài kinh nầy đều là thành quả của sự tu
tập nơi vị a la hán (Phalindriya).
Chánh trí và chánh giải thoát trong Kinh Đông Phương Tự II chính là sự
thành tựu cao độ của tuệ quyền (tuệ căn) và định quyền (hay định
căn) của bậc a la hán câu phần giải thoát. Cũng được biết tới
với thuật ngữ tuệ giải thoát và tâm giải thoát.
Trong Kinh Đông Phương Tự III chỉ nói tới 4 căn (không có tín căn). Không
có Sớ giải chú thích riêng kinh nầy. Theo lời giải thích của học
giả Sayagyi U Chit Tin thì đây chỉ cho tâm thái của bậc a la hán
tuệ giải thoát (can quán giả). Các ngài đã tự thân chứng ngộ nên
không dùng tín quyền.
Cũng theo học giả trên, Kinh Đông Phương Tự IV đề cập đến năm quyền ở các
bậc a la hán tu tập samatha (luyện thiền chỉ tam muội định)
Không có bản sớ giải cho ba bài kinh trên
|