BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 05  tháng 03, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Tuổi Già- SN 48.46, 47, 48 -
Bài 620.CÁC QUYỀN VÀ CHƯ VỊ A LA HÁN -

Kinh Đông Phương Tự II, III, IV (Paṭhamapubbārāmasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-619-1.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong giáo lý của Đức Phật, năm căn (pañcindriyāni) hay còn gọi là năm quyền gồm: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Đây không chỉ là những yếu tố hỗ trợ cho người đang bước đi trên con đường tu tập, mà còn là những năng lực tâm linh nền tảng hiện hữu nơi các bậc đã hoàn toàn giải thoát. Vì vậy, năm căn không phải chỉ là phương tiện của hành giả sơ học, mà còn là cấu trúc nội tại của tâm giác ngộ.

Khi đã đạt đến quả vị A-la-hán, năm căn ấy vẫn hiện hữu như những năng lực đã viên mãn. Tuy nhiên, sự sai biệt trong quả chứng của chư vị A-la-hán—như giữa bậc câu phần giải thoát (ubhatobhāgavimutta) và bậc tuệ giải thoát (paññāvimutta)—cũng phản ánh sự khác biệt trong sự trội thắng của các căn. Ở bậc câu phần giải thoát, định lực được phát triển thâm sâu đến mức chứng đạt các tầng thiền vô sắc và các giải thoát định, nên định căn hiển lộ mạnh mẽ cùng với tuệ căn. Ngược lại, ở bậc tuệ giải thoát, trí tuệ trực quán nổi bật hơn; dù định vẫn đầy đủ để chứng quả, nhưng tuệ căn là yếu tố vượt trội con đường giải thoát. Như vậy, năm căn vừa là nền móng của hành trình tu tập, vừa là cấu trúc năng lực của tâm đã giải thoát. Sự sai biệt nơi các bậc A-la-hán không nằm ở mục tiêu, vì tất cả đều đã đoạn tận lậu hoặc, mà nằm ở cách các căn được phát triển và biểu hiện.

Kinh Văn

Kinh Đông Phương Tự II

Cũng trong duyên sự tương tự.

“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí giải thoát tối hậu như sau: ‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”

“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm người lãnh đạo….”

“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập hai căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.

Hai căn ấy là gì? Thánh trí và thánh giải thoát.

Vì thánh trí của vị ấy chính là tuệ căn,
và thánh giải thoát của vị ấy chính là định căn.

Này các Tỳ khưu, chính vì hai căn này đã được phát triển và tu tập mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau:

‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”

Kinh Đông Phương Tự III

Cũng trong duyên sự tương tự.

“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau: ‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”

“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản….”

“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập bốn căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.

Bốn căn ấy là gì?

  • Tấn căn
  • Niệm căn
  • Định căn
  • Tuệ căn

Này các Tỳ khưu, chính vì bốn căn này đã được phát triển và tu tập mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau:

‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”

Kinh Đông Phương Tự IV

Cũng trong duyên sự tương tự.

“Này các Tỳ khưu, do phát triển và tu tập bao nhiêu căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau:

‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa’?”

“Bạch Thế Tôn, pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản….”

“Này các Tỳ khưu, chính do đã phát triển và tu tập năm căn mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như vậy.

Năm căn ấy là gì?

  • Tín căn
  • Tấn căn
  • Niệm căn
  • Định căn
  • Tuệ căn

Này các Tỳ khưu, chính vì năm căn này đã được phát triển và tu tập mà một vị Tỳ khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tuyên bố trí tối hậu như sau: ‘Ta hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’”

Chú Thích

Theo Sớ giải các căn trong những bài kinh nầy đều là thành quả của sự tu tập nơi vị a la hán (Phalindriya).

Chánh trí và chánh giải thoát trong Kinh Đông Phương Tự II chính là sự thành tựu cao độ của tuệ quyền (tuệ căn) và định quyền (hay định căn) của bậc a la hán câu phần giải thoát. Cũng được biết tới với thuật ngữ tuệ giải thoát và tâm giải thoát.

Trong Kinh Đông Phương Tự III chỉ nói tới 4 căn (không có tín căn). Không có Sớ giải chú thích riêng kinh nầy. Theo lời giải thích của học giả Sayagyi U Chit Tin thì đây chỉ cho tâm thái của bậc a la hán tuệ giải thoát (can quán giả). Các ngài đã tự thân chứng ngộ nên không dùng tín quyền.

Cũng theo học giả trên, Kinh Đông Phương Tự IV đề cập đến năm quyền ở các bậc a la hán tu tập samatha (luyện thiền chỉ tam muội định)

Không có bản sớ giải cho ba bài kinh trên

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Về Già

46. VI. Vườn Phía Ðông (2) (S.v, 222)

1) Nhân duyên như trên.

2) -- Bao nhiên căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...

3) -- Hai căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa". Thế nào là hai?

4) Thánh trí tuệ và Thánh giải thoát. Cái gì trong vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh trí tuệ, cái ấy là tuệ căn. Cái gì trong vị ấy, này các Tỷ-kheo, là Thánh giải thoát, cái ấy là định căn.

5) Hai căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".

47. VII. Vườn Phía Ðông (3). (S.v, 223)

1) Nhân duyên như trên.

2) -- Có bao nhiêu căn được tu tập, được làm cho sung mãn, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có thể trả lời với chánh trí rằng: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"?

-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...

3-5) ... (như trên, chỉ khác là kinh này nói đến bốn căn tức tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn...)

48. VIII. Vườn Phía Ðông (4) (S.iv,223)

... (như kinh trước, chỉ khác là đây chỉ năm căn tức tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn) ...