BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 07  tháng 03, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Tuổi Già- SN 48.49-
Bài 621. SỞ CHỨNG VÀ XÁC CHỨNG -

Kinh Piṇḍolabhāradvāja (Piṇḍolabhāradvājasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-621.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Có những mô tả về hành trình tu chứng rất đơn giản; ở đây Đức Phật chỉ chỉ nhắc đến ba căn: Niệm, Định và Tuệ. Ba yếu tố này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ đưa đến sự đoạn tận sanh, già và chết. Trước hết là niệm. Niệm là khả năng tỉnh thức, nhớ biết rõ ràng những gì đang xảy ra nơi thân và tâm. Định là khả năng tập trung ở mức độ tâm không còn chi phối bởi những phiền não ngăn ngại dẫn tới tâm giải thoát. Tuệ là cái thấy trực tiếp đối với thực tướng của vạn pháp đều vô thường, khổ và vô ngã. Khi tuệ thấy rõ bản chất sinh diệt của các uẩn, sự chấp thủ không còn chỗ đứng. Và khi không còn chấp thủ, vòng xoay của sanh – già – chết cũng chấm dứt.

Kinh Văn

519. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kosambiyaṃ viharati ghositārāme. tena kho pana samayena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā hoti — “khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyāti pajānāmī”ti. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ —
“āyasmatā, bhante, piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmīti. kiṃ nu kho, bhante, atthavasaṃ sampassamānena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“tiṇṇannaṃ kho, bhikkhave, indriyānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmīti. katamesaṃ tiṇṇannaṃ? satindriyassa, samādhindriyassa, paññindriyassa — imesaṃ kho, bhikkhave, tiṇṇannaṃ indriyānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmīti. imāni ca, bhikkhave, tīṇindriyāni kimantāni? khayantāni. kissa khayantāni?
jātijarāmaraṇassa. ‘jātijarāmaraṇaṃ khayan’ti kho, bhikkhave, sampassamānena piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā — ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmī”ti. navamaṃ.

Như vầy tôi nghe.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Kosambī, trong vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn giả Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như sau:

“Ta đã hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hữu này nữa.”

Rồi một số Tỳ khưu đến gần Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như sau: ‘Ta đã hiểu rõ: sanh đã tận…’ Do nhân gì mà Tôn giả Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy?”

Thế Tôn dạy:

“Này các Tỳ khưu, chính vì vị Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tu tập và làm cho sung mãn ba căn nên đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy. Ba căn ấy là gì? Đó là: Niệm căn, định căn, tuệ căn.

Này các Tỳ khưu, chính vì vị ấy đã tu tập và làm cho sung mãn ba căn này nên Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy.

Này các Tỳ khưu, ba căn này đưa đến chỗ tịch tịnh. Tịch tịnh điều gì? Tịch tịnh sanh, già và chết. Vì chúng đưa đến sự tịch tịnh sanh, già và chết, nên Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy: ‘Ta đã hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái hữu này nữa.’”

Chú Thích

Ghositārāma (chùa Ghosita),tại Kosambī  nơi đây là một trong những tịnh xá lớn do cư sĩ Ghosita xây dựng cúng dường cho Tăng đoàn.

Kosambī thời bấy giờ là một trung tâm lớn của Tăng chúng, nơi nhiều vị A-la-hán cư trú và tu tập.

Bhāradvāja là tên của một dòng họ Bà-la-môn; trong các tạng kinh (Piṭaka) có nhắc đến khoảng hai mươi nhân vật thuộc dòng họ này. Tôn giả Piṇḍola cũng thuộc dòng họ Bhāradvāja;  Dòng họ (gotta) này rõ ràng được xem là một dòng họ rất cổ xưa. Trong kinh điển còn ghi nhận rằng Bhāradvāja là một trong những tác giả của các bài thánh thi  của Bà-la-môn giáo (xem: D.i.242.).

Tuyên bố aññā-vyākaraṇa — tức là lời xác nhận đã chứng ngộ. “Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthatāyā.” Đây là công thức chuẩn của các bậc A-la-hán khi tuyên bố sự chứng đắc.

Khīṇā jāti  “Sanh đã tận”. Nghĩa là không còn tái sanh trong bất kỳ cõi nào nữa.

Vusitaṃ brahmacariyaṃ “Phạm hạnh đã thành” Tức là con đường tu tập đưa đến giải thoát đã hoàn mãn.

Kataṃ karaṇīyaṃ  “Việc cần làm đã làm” Tức là Tứ Thánh Đế đã được liễu tri hoàn toàn.

Nāparaṃ itthatāyā “Không còn trở lại trạng thái hữu này nữa” Tức là không còn tái sinh trong bất cứ hình thức hữu nào.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

V. Phẩm Về Già

49. IX. Pindolo (Kẻ tìm tòi các đống rác) (S.iv,224)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.

2) Lúc bấy giờ, Tôn giả Pindolabhàradvàja tuyên bố với chánh trí như sau: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Ta rõ biết như vậy".

3) Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Tôn giả Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí như sau: "Ta rõ biết rằng: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa". Do thấy lý do gì (althavasam), bạch Thế Tôn, Tôn giả Pindolabhàradvàja lại tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa"?

4) -- Do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn, này các Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa". Ba căn ấy là gì?

5) Niệm căn, định căn, tuệ căn.

6) Chính do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa".

7) Và này các Tỷ-kheo, ba căn này, chúng đi đến tận cùng ở đâu? Tận cùng đi đến đoạn diệt. Ði đến đoạn diệt cái gì? Ði đến đoạn diệt gì? -- Sanh già và chết. Vì thấy sanh già và chết đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, nên Tỷ-kheo Pindolabhàradvàja đã tuyên bố với chánh trí rằng: "Ta rõ biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".