|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 07 tháng 03, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 621. SỞ CHỨNG VÀ XÁC CHỨNG - Kinh Piṇḍolabhāradvāja (Piṇḍolabhāradvājasuttaṃ) .
Có những mô tả về hành trình tu chứng
rất đơn giản; ở đây Đức Phật chỉ chỉ nhắc đến ba căn: Niệm, Định
và Tuệ. Ba yếu tố này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ
đưa đến sự đoạn tận sanh, già và chết. Trước hết là niệm. Niệm
là khả năng tỉnh thức, nhớ biết rõ ràng những gì đang xảy ra nơi
thân và tâm. Định là khả năng tập trung ở mức độ tâm không còn
chi phối bởi những phiền não ngăn ngại dẫn tới tâm giải thoát.
Tuệ là cái thấy trực tiếp đối với thực tướng của vạn pháp đều vô
thường, khổ và vô ngã. Khi tuệ thấy rõ bản chất sinh diệt của
các uẩn, sự chấp thủ không còn chỗ đứng. Và khi không còn chấp
thủ, vòng xoay của sanh – già – chết cũng chấm dứt.
Kinh Văn
519. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kosambiyaṃ viharati
ghositārāme. tena kho pana samayena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena
aññā byākatā hoti — “khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyāti pajānāmī”ti. atha kho sambahulā
bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te
bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ —
Như vầy tôi nghe.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự tại Kosambī, trong vườn Ghosita. Lúc bấy giờ, Tôn
giả Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như sau:
“Ta đã hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong,
không còn trở lại trạng thái hữu này nữa.”
Rồi một số Tỳ khưu đến gần Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu
như sau: ‘Ta đã hiểu rõ: sanh đã tận…’ Do nhân gì mà Tôn giả
Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy?”
Thế Tôn dạy:
“Này các Tỳ khưu, chính vì vị Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tu tập và làm
cho sung mãn ba căn nên đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu như vậy.
Ba căn ấy là gì? Đó là: Niệm căn, định căn, tuệ căn.
Này các Tỳ khưu, chính vì vị ấy đã tu tập và làm cho sung mãn ba căn này
nên Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri tối hậu
như vậy.
Này các Tỳ khưu, ba căn này đưa đến chỗ tịch tịnh. Tịch tịnh điều gì? Tịch
tịnh sanh, già và chết. Vì chúng đưa đến sự tịch tịnh sanh, già
và chết, nên Tỳ khưu Piṇḍola Bhāradvāja đã tuyên bố sự liễu tri
tối hậu như vậy: ‘Ta đã hiểu rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại trạng thái
hữu này nữa.’”
Chú Thích
Ghositārāma
(chùa Ghosita),tại Kosambī nơi
đây là một trong những tịnh xá lớn do cư sĩ Ghosita xây dựng
cúng dường cho Tăng đoàn.
Kosambī thời bấy giờ là một trung tâm lớn của Tăng chúng, nơi nhiều vị A-la-hán
cư trú và tu tập.
Bhāradvāja
là tên của một dòng họ Bà-la-môn; trong các tạng kinh (Piṭaka) có nhắc đến
khoảng hai mươi nhân vật thuộc dòng họ này. Tôn giả Piṇḍola cũng
thuộc dòng họ Bhāradvāja;
Dòng họ (gotta) này rõ ràng được xem là một dòng họ rất
cổ xưa. Trong kinh điển còn ghi nhận rằng Bhāradvāja là một
trong những tác giả của các bài thánh thi
của Bà-la-môn giáo (xem: D.i.242.).
Tuyên bố aññā-vyākaraṇa
—
tức là lời xác nhận đã chứng ngộ. “Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthatāyā.” Đây là công
thức chuẩn của các bậc A-la-hán khi tuyên bố sự chứng đắc.
Khīṇā jāti “Sanh đã tận”. Nghĩa là
không còn tái sanh trong bất kỳ cõi nào nữa.
Vusitaṃ brahmacariyaṃ “Phạm hạnh đã thành” Tức là con đường tu tập đưa đến
giải thoát đã hoàn mãn.
Kataṃ karaṇīyaṃ “Việc cần làm đã
làm” Tức là Tứ Thánh Đế đã được liễu tri hoàn toàn.
Nāparaṃ itthatāyā “Không còn trở lại trạng thái hữu này nữa” Tức là không
còn tái sinh trong bất cứ hình thức hữu nào.
|