BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Chủ Nhật, 08 tháng 03, 2026

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN

- THẦN LỰC VÀ NGHIỆP LỰC- - Bổn sanh 522. Sarabhaṅgajātakaṃ

 http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Jataka-522.png

“kāyena vācāya ca yo’dha saññato, manasā ca  kiñci na karoti pāpaṃ.
na attahetū alikaṃ bhaṇeti tathāvidhaṃ  sīlavantaṃ vadanti.

Thân khẩu luôn phòng hộ
Không nuôi niệm chẳng lành
Chẳng ích kỷ, dối gian
Ấy người đủ giới hạnh

“gambhīrapañhaṃ manasābhicintayaṃ, nāccāhitaṃ  kamma karoti luddaṃ.
kālāgataṃ atthapadaṃ na riñcati, tathāvidhaṃ  paññavantaṃ vadanti.

Suy tư điều sâu xa
Không làm việc hung ác
Nói đúng thời, lợi lạc
Ấy bậc trí trong đời

“yo ve kataññū katavedi dhīro,  kalyāṇamitto daḷhabhatti ca hoti. 
dukhitassa sakkacca karoti kiccaṃ,  tathāvidhaṃ sappurisaṃ vadanti.

Biết ơn và nhớ ơn
Bạn lành luôn thân cận
Trung tín và lợi hành
Ấy là bậc chân nhân

CÂU CHUYỆN THỜI PHẬT TẠI THẾ

Đây là câu chuyện  nói về sự viên tịch của Đại Trưởng lão Moggallāna (Mục Kiền Liên) — bậc đệ nhất thần thông, một bậc đại thánh lớn giữa hàng thanh văn đệ tử Phật. Tuy thần thông là điểm nổi bật nhất nơi ngài, nhưng về trí tuệ, Moggallāna cũng chỉ đứng sau Sāriputta. Hai vị này có thể giải đáp những câu hỏi vượt ngoài khả năng của bất kỳ đệ tử nào khác.

Trước đó không lâu, Tôn giả Sāriputta, sau khi đảnh lễ và được đức Như Lai chấp thuận tại Jetavana, đã trở về làng Nāla, nơi quê nhà của mình. Sau khi Tôn giả Sāriputta viên tịch, đức Thế Tôn với sự tháp tùng của Tăng đoàn 500 tỳ khưu đi đến Rājagaha và ngự tại Trúc Lâm.

Thời ấy, Đại Trưởng lão Moggallāna cư ngụ trên sườn núi Isigili, tại vùng Hắc Nham. Ngài là bậc ó thần thông thù thắng, lui tới giữa cõi người, cõi trời và cả những cảnh giới đau khổ. Khi đi lên thiên giới, ngài thấy những người đệ tử thuần thành của đức Phật sau khi mạng chung được tái sinh vào cảnh giới sáng chói, oai lực lớn lao, an vui thù thắng. Khi quán xuống những cảnh giới đọa lạc, ngài lại thấy có những người theo tà kiến, sau khi chết phải chịu nhiều đau đớn trong địa ngục hay các cõi khổ khác.

Trở về nhân gian, vị trưởng lão kể lại những điều mắt thấy tai nghe ấy cho mọi người. Nghe vậy, lòng người bừng tỉnh. Nhiều cư sĩ phát khởi đức tin sâu xa nơi Tam bảo, càng kính trọng giáo pháp của đức Thế Tôn; còn những giáo thuyết sai lạc, ly giáo, dần dần mất đi chỗ đứng trong lòng quần chúng. Danh dự và sự cúng dường hướng về hàng đệ tử Phật càng lúc càng tăng, trong khi ảnh hưởng của ngoại đạo ngày một suy giảm.

Chính điều đó làm bùng lên sự ganh ghét và oán hận nơi những kẻ chấp trước tà kiến. Họ bảo nhau: “Chừng nào vị sa-môn ấy còn sống, thì đồ chúng của chúng ta còn chia rẽ, và sự tôn kính dành cho chúng ta còn suy giảm. Phải trừ khử ông ta.”

Thế là họ bí mật trao một ngàn đồng tiền cho một tên cướp chuyên theo dõi các đạo sĩ trong rừng, thuê hắn đến giết vị trưởng lão.

Tên cướp nhận lời. Hắn dẫn theo một toán người kéo đến Hắc Nham. Nhưng lần nào vừa thấy hắn từ xa, vị trưởng lão cũng dùng thần lực bay vút lên hư không và biến mất. Ngày thứ nhất như thế, rồi ngày thứ hai, thứ ba… cho đến ngày thứ sáu, tên cướp vẫn không thể làm gì được. Mỗi lần trở về, lòng hắn càng thêm tức tối; còn mỗi lần biến mất, vị trưởng lão vẫn bình thản như mây trời, như thể mọi hiểm nguy trong đời không thể chạm tới tâm giải thoát.

Nhưng rồi đến ngày thứ bảy, Tôn giả quán sát  nghiệp cũ từ quá khứ xa xăm Ngài nhớ lại câu chuyện của thuở xa xưa.

CÂU CHUYỆN TIỀN THÂN

Thuở xưa, trong một tiền kiếp, tôn giả vốn là một người đàn ông rất có hiếu và yêu thương vợ. Nhưng người vợ vì không muốn chồng quá bận tâm với cha mẹ già yếu mù loà nên nghĩ ra kế độc. Những lúc người chồng ra ruộng lo việc đồng áng thì người vợ làm nhà cửa lộn xộn; bôi trét những thứ dơ bẩn khắp nhà. Khi chồng về thì người vợ làm mặt buồn rầu than là cha mẹ già nên sanh tật. Sự việc xẩy ra nhiều lần đến ngày kia thấy người chồng cũng buồn phiền nhiều việc đó nên người vợ xúi dục: Cha mẹ sống như vầy bản thân cũng khổ mà con cháu cũng khổ. Già rồi kéo dài cuộc sống chỉ khổ thân. Nếu có cách gì để cha mẹ chết sớm thì ông bà bớt khổ.

Người chồng nghe vậy cũng thuận tai nên toan tính một cách để giết cha mẹ. Ông chở cha mẹ lên xe, đưa vào rừng sâu, rồi giả vờ như bị bọn cướp tấn công. Chính ông đã xuống tay đánh đập cha mẹ già. Nhưng vì tuổi cao mắt mờ, hai đấng sinh thành không nhận ra con mình. Tưởng thật là giặc cướp, họ chỉ cất tiếng gọi trong sợ hãi và thương yêu:

“Con ơi, có cướp đang giết cha mẹ đây! Con hãy mau chạy thoát thân!”

Giữa những đòn roi oan nghiệt, hai người già vẫn chỉ lo cho con, vẫn chỉ than khóc cho đứa con yêu quý. Câu nói ấy như một nhát dao cắt ngang tâm can ông. Ngay trong giây phút ấy, lương tri thức tỉnh. Ông bàng hoàng tự nhủ:

“Ta chính là kẻ đang đánh đập cha mẹ, vậy mà cha mẹ vẫn chỉ thương ta, vẫn chỉ lo ta bị hại. Ta thật quá đỗi nhẫn tâm, quá đỗi đê tiện.”

Ông liền dừng tay, giả vờ xua đuổi bọn cướp, rồi nhẹ nhàng xoa tay xoa chân cho cha mẹ mà nói:

“Thưa cha mẹ, xin đừng sợ nữa, bọn cướp đã bỏ đi rồi.”

Sau đó, ông đưa cha mẹ trở về nhà hết lòng phụng dưỡng cho đến khi cha mẹ qua đời.

SỰ VIÊN TỊCH CỦA MỘT BẬC ĐẠI THẦN LỰC

Ác nghiệp bất hiếu ấy, từ đó, không mất đi. Nó lặng lẽ nằm sâu trong dòng sinh tử, như một đốm than đỏ vùi dưới lớp tro dày, tưởng như đã tắt mà thật ra vẫn âm ỉ chờ ngày bùng cháy. Qua bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, nó chưa gặp cơ hội trổ quả. Nhưng đến đời sống cuối cùng này của vị trưởng lão, tuy ba la mật hạnh đã viên mãn, chính nghiệp xưa ấy lại tìm được khe hở để hiện hành.

Vì vậy, vào ngày thứ bảy ấy, vị trưởng lão đệ tử Phật với đệ nhất thần lực từng làm chấn động cung trời Vejayanta, từng chế ngự được Nandopananda, nay quyết định không dùng thần lực tránh nghiệp lực. Ngài an nhiên nhập thiền trong tịnh thất. Bọn cướp thấy vậy xông vào  đánh đập vị trưởng lão vô cùng tàn bạo. Vì được dặn trước đây là người có thần lực cao siêu rất khó giết chết nên bọn sát thủ đập nát xương cốt ngài bằng thứ cực hình gọi là “rơm và bột.” Thân thể vị trưởng thương tổn nặng nề, máu thịt dập vùi. Tưởng ngài đã chết, bọn sát thủ bỏ đi.

Nhưng vị trưởng lão chưa xả báo thân ngay lúc ấy. Sau đó Ngài dùng thần thông hoàn nguyên thân xác và bay đến chùa Trúc Lâm đảnh lễ đức Thế Tônvà thưa bằng giọng vô cùng bình lặng:

“Bạch Thế Tôn, mạng căn của con nay đã tận. Con xin phép được viên tịch.”

Đức Phật im lặng chấp thuận.

Ngay sau đó, Đại Trưởng lão Moggallāna an nhiên viên tịch.

Trong khoảnh khắc ấy, sáu cõi trời đều chấn động. Chư thiên bàng hoàng kêu lên:

“Bậc Thầy của chúng ta đã viên tịch!”

Từ các thiên giới, họ mang đến hương thơm, nước thơm, những tràng hoa ngát mùi trời, cùng vô số gỗ quý. Giàn hỏa táng được dựng lên bằng gỗ chiên-đàn và những vật báu vô cùng trân quý. Đức Đạo Sư thân hành đứng bên cạnh vị đệ tử lớn, chỉ dạy việc trà-tỳ và an trí di cốt. Trong vòng một do-tuần quanh nơi hỏa táng, hoa trời rơi xuống như mưa. Người và chư thiên đứng chen nhau trong niềm tiếc thương và tôn kính. Suốt bảy ngày, một lễ hội thiêng liêng được cử hành để tưởng niệm vị đại đệ tử thù thắng ấy. Sau lễ trà-tỳ, đức Đạo Sư cho thu nhặt xá-lợi của ngài và dựng một bảo tháp trong một gian nhà mái nhọn tại Trúc Lâm.

Tôn giả Moggallāna viên tịch trước đức Phật, (Tôn giả Sāriputta viên tịch trước cả hai vị). Tôn giả Sāriputta viên tịch vào ngày rằm tháng Kattika, còn Tôn giả Moggallāna viên tịch hai tuần sau, vào ngày cuối tháng.

Tỳ khưu Giác Đẳng phóng tác từ Kinh Bổn Sanh

-ooOoo-