BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 16 tháng 03, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Hang Heo Rừng- SN 48.57-
Bài 627. NIẾT BÀN LÀM NỀN TẢNG, LÀM QUY HƯỚNG, LÀM CỨU CÁNH -

Kinh Phạm thiên Sahampati (Sahampatibrahmasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-627.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Dưới gốc cây Ajapālanigrodh bên bờ sông Nerañjarā, sau khi thành đạo, Đức Thế Tôn lặng ngồi trong tĩnh lặng. Không còn gì phải tìm kiếm nữa, nhưng trí tuệ của bậc Giác ngộ vẫn soi chiếu con đường cho thế gian. Trong sự yên tĩnh ấy, một quán niệm khởi lên như ánh bình minh trên mặt nước: Năm căn, khi được tu tập viên mãn, lấy Bất tử làm nền, làm hướng, làm cứu cánh. Con đường ấy không xa xôi, cũng không huyền bí. Nó bắt đầu rất giản dị, từ năm sức nội tại. Khi năm căn lớn mạnh cùng nhau, chúng trở thành một con đường. Tín mở cửa. Tấn bước đi. Niệm giữ hướng. Định làm vững tâm. Tuệ thấy rõ đích đến. Đích đến ấy được Đức Phật gọi bằng một cái tên Amata — Bất tử. Đó là Niết-bàn — sự tắt lặng của mọi ngọn lửa khổ đau. Bởi vậy, con đường dẫn đến Bất tử không nằm ở những nơi xa xôi trong vũ trụ, mà nằm ngay trong chính tâm mình.

Kinh Văn

527. ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho. atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi — “pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti amataparāyaṇāni amatapariyosānāni. katamāni pañca? saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. vīriyindriyaṃ ... pe ... satindriyaṃ ... pe ... samādhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. imāni pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti amataparāyaṇāni amatapariyosānānī”ti.
atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya; evameva brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi. atha kho brahmā sahampati ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā bhagavantaṃ etadavoca —
“evametaṃ, bhagavā, evametaṃ sugata! pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti amataparāyaṇāni amatapariyosānāni. katamāni pañca? saddhindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. imāni pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti amataparāyaṇāni amatapariyosānāni”. “bhūtapubbāhaṃ, bhante, kassape sammāsambuddhe brahmacariyaṃ acariṃ. tatrapi maṃ evaṃ jānanti —
‘sahako bhikkhu, sahako bhikkhū’ti. so khvāhaṃ, bhante, imesaṃyeva pañcannaṃ indriyānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā kāmesu kāmacchandaṃ virājetvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ brahmalokaṃ upapanno. tatrapi maṃ evaṃ jānanti —
‘brahmā sahampati, brahmā sahampatī’”ti. “evametaṃ, bhagavā, evametaṃ sugata! ahametaṃ jānāmi, ahametaṃ passāmi yathā imāni pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti amataparāyaṇāni amatapariyosānānī”ti. sattamaṃ.

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây Ajapālanigrodha, không lâu sau khi Ngài vừa thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Khi Đức Thế Tôn đang độc cư thiền tịnh, một suy niệm khởi lên trong tâm Ngài:

“Năm căn này, khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử (Niết-bàn) làm nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh. Năm căn ấy là gì? Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Tuệ căn. Năm căn này, khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử làm nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh.”

Bấy giờ Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được suy tưởng của Đức Thế Tôn, liền nhanh chóng như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước Đức Thế Tôn.

Phạm thiên Sahampati đắp thượng y qua một vai, chắp tay cung kính hướng về Đức Thế Tôn và bạch rằng:

“Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ! Năm căn — tín, tấn, niệm, định, tuệ — khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử làm nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh. “Bạch Thế Tôn, thuở xưa con từng sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật Kassapa. Khi ấy họ biết con với tên Tỳ-khưu Sahaka. “Nhờ tu tập và phát triển chính năm căn này, bạch Thế Tôn, con đã đoạn trừ dục tham đối với các dục lạc. Và khi thân hoại mạng chung, con được tái sinh vào cảnh giới tốt đẹp, vào cõi Phạm thiên. “Ở đó họ biết con với tên Phạm thiên Sahampati. “Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ! Con biết điều này, con thấy điều này: năm căn này khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử làm nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh.”

Chú Thích

Uruvelā là nơi Đức Phật thành đạo, thuộc quốc độ Magadha, gần thị trấn Senānigama. Uruvelā có ba đặc điểm khiến Bồ-tát chọn làm nơi tu khổ hạnh:

rừng cây đẹp, dòng sông Nerañjarā trong sạch, làng mạc gần đó dễ khất thực. Theo Sớ giải đó là một vùng đất đáng yêu thích cho hành giả tu tập (ramaṇīyo bhūmibhāgo)

Cây Ajapāla Nigrodha (aja = dê + pāla = người chăn + nigrodha = cây đa):“Cây đa của người chăn dê”. Sau khi thành đạo, trong bảy tuần lễ , Đức Phật an trú ở nhiều cây khác nhau quanh Bồ-đề đạo tràng: cây Bodhi,  cây Ajapāla, cây Rājāyatana.

Phạm thiên Sahampati  vốn là một tỳ khưu tên Sahaka thời Phật Kassapa. Do tu tập chứng thiền, sanh về Phạm thiên. Sau đó trở thành Brahmā Sahampati. Trong kinh điển. Phạm thiên Sahampati là Brahmā hộ pháp

seyyathāpi nāma balavā puriso  đây là thành ngữ Pāli thường dùng có nghĩa là sự di chuyển cực nhanh. Brahmā có thần lực nên có thể hiện ra hay biến mất trong khoảnh khắc.

ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā (đắp thượng y một bên) là cử chỉ cung kính trong Phật giáo và văn hoá cổ truyền Ấn Độ mang ý  nghĩa bày tỏ tôn kính hay chuẩn bị đảnh lễ

bhāvitā bahulīkatā là thuật ngữ rất quan trọng. bhāvitā nghĩa là được tu tập, làm cho lớn mạnh. Bahulīkatā nghĩa là được thực hành thường xuyên, Sớ giải chú thích là punappunaṃ katā (được làm đi làm lại).

Amata chỉ cho Niết-bàn (Amata nāma Nibbānaṃ - Bất tử chính là Niết-bàn. Amatogadha (lấy bất tử làm nền tảng); amataparāyana (lấy bất tử làm quy hướng); amatapariyosāna (lấy bất tử làm cứu cánh)

Sớ Giải

Patiṭṭhitasuttādivaṇṇanā

526-527. chaṭṭhe cittaṃ rakkhati āsavesu ca sāsavesu ca dhammesūti tebhūmakadhamme ārabbha āsavuppattiṃ vārento āsavesu ca sāsavesu ca dhammesu cittaṃ rakkhati nāma. sattamaṃ uttānameva.

526–527. Trong bài kinh thứ sáu:

“Phòng hộ tâm đối với các lậu hoặc và các pháp có lậu hoặc”
(cittaṃ rakkhati āsavesu ca sāsavesu ca dhammesu) nghĩa là: vị ấy ngăn chặn sự sinh khởi của các lậu hoặc khi đối diện với các pháp thuộc ba cõi (tebhūmaka-dhamma). Khi ngăn chặn như vậy, thì gọi là phòng hộ tâm đối với các lậu hoặc và các pháp có lậu hoặc.

Bài kinh thứ bảy (sattamaṃ) rõ ràng, dễ hiểu (uttānameva).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Phẩm Thứ Sáu

57. VII. Phạm Thiên (S.v,232)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Uruvela, trên bờ sông Neranjara, dưới cây bàng Ajapàla, khi vừa mới giác ngộ.

2) Rồi Thế Tôn trong khi độc cư Thiền định, tâm tư suy tưởng sau đây được khởi lên: "Năm căn được tu tập, được làm sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Tấn căn... Niệm căn... Ðịnh căn... Tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Năm căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".

3) Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm của mình biết được tâm tư suy tưởng của Thế Tôn, ví như người lực sĩ duỗi bàn tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra, cũng vậy, Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế Tôn.

4) Rồi Phạm thiên Sahampati, đắp thượng y vào một bên vai, chắp tay vái chào Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

-- Thưa vậy là phải, bạch Thế Tôn. Thưa vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Năm căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh. Thế nào là năm? Tín căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh... Tuệ căn được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh.

5) Thuở xưa, bạch Thế Tôn, con sống Phạm hạnh trong thời ngài Kassapa Chánh đẳng Chánh giác. Tại đấy mọi người biết con là: "Tỷ-kheo Sahaka, Tỷ-kheo Sahaka". Và con, bạch Thế Tôn, nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn năm căn này, sau khi từ bỏ dục tham đối với các dục, sau khi thân hoại mạng chung, con được sanh lên thiện thú, Phạm thiên giới. Tại đấy, họ gọi con là: "Phạm thiên Sahampati, Phạm thiên Sahampati".

6) Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Con biết như sau, con thấy như sau: "Năm căn này được tu tập, được làm cho sung mãn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm mục đích, lấy bất tử làm cứu cánh".