|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 16 tháng 03, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 627. NIẾT BÀN LÀM NỀN TẢNG, LÀM QUY HƯỚNG, LÀM CỨU CÁNH - Kinh Phạm thiên Sahampati (Sahampatibrahmasuttaṃ) .
Dưới gốc cây Ajapālanigrodh bên bờ sông Nerañjarā, sau khi thành đạo, Đức
Thế Tôn lặng ngồi trong tĩnh lặng. Không còn gì phải tìm kiếm
nữa, nhưng trí tuệ của bậc Giác ngộ vẫn soi chiếu con đường cho
thế gian. Trong sự yên tĩnh ấy, một quán niệm khởi lên như ánh
bình minh trên mặt nước: Năm căn, khi được tu tập viên mãn, lấy
Bất tử làm nền, làm hướng, làm cứu cánh. Con đường ấy không xa
xôi, cũng không huyền bí. Nó bắt đầu rất giản dị, từ năm sức nội
tại. Khi năm căn lớn mạnh cùng nhau, chúng trở thành một con
đường. Tín mở cửa. Tấn bước đi. Niệm giữ hướng. Định làm vững
tâm. Tuệ thấy rõ đích đến. Đích đến ấy được Đức Phật gọi bằng
một cái tên Amata — Bất tử. Đó là Niết-bàn — sự tắt lặng của mọi
ngọn lửa khổ đau. Bởi vậy, con đường dẫn đến Bất tử không nằm ở
những nơi xa xôi trong vũ trụ, mà nằm ngay trong chính tâm mình.
Kinh Văn
527. ekaṃ samayaṃ bhagavā uruvelāyaṃ viharati najjā nerañjarāya
tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho. atha kho bhagavato
rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ cetaso parivitakko udapādi —
“pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti
amataparāyaṇāni amatapariyosānāni. katamāni pañca? saddhindriyaṃ
bhāvitaṃ bahulīkataṃ amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ
amatapariyosānaṃ. vīriyindriyaṃ ... pe ... satindriyaṃ ... pe
... samādhindriyaṃ ... pe ... paññindriyaṃ bhāvitaṃ bahulīkataṃ
amatogadhaṃ hoti amataparāyaṇaṃ amatapariyosānaṃ. imāni
pañcindriyāni bhāvitāni bahulīkatāni amatogadhāni honti
amataparāyaṇāni amatapariyosānānī”ti.
Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Uruvelā, bên bờ sông Nerañjarā, dưới gốc cây
Ajapālanigrodha, không lâu sau khi Ngài vừa thành tựu Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Khi Đức Thế Tôn đang độc cư thiền tịnh, một suy niệm khởi lên trong tâm
Ngài:
“Năm căn này, khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử (Niết-bàn) làm nền
tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh. Năm căn
ấy là gì? Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn, Tuệ căn. Năm căn
này, khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử làm nền tảng, lấy
Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh.”
Bấy giờ Phạm thiên Sahampati, với tâm của mình biết được suy tưởng của Đức
Thế Tôn, liền nhanh chóng như người lực sĩ duỗi cánh tay co lại
hoặc co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi cõi Phạm thiên và
hiện ra trước Đức Thế Tôn.
Phạm thiên Sahampati đắp thượng y qua một vai, chắp tay cung kính hướng về
Đức Thế Tôn và bạch rằng:
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ! Năm căn — tín, tấn,
niệm, định, tuệ — khi được tu tập và phát triển, lấy Bất Tử làm
nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm cứu cánh. “Bạch
Thế Tôn, thuở xưa con từng sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn
của Đức Phật Kassapa. Khi ấy họ biết con với tên Tỳ-khưu Sahaka.
“Nhờ tu tập và phát triển chính năm căn này, bạch Thế Tôn, con
đã đoạn trừ dục tham đối với các dục lạc. Và khi thân hoại mạng
chung, con được tái sinh vào cảnh giới tốt đẹp, vào cõi Phạm
thiên. “Ở đó họ biết con với tên Phạm thiên Sahampati. “Đúng
vậy, bạch Thế Tôn! Đúng vậy, bạch Thiện Thệ! Con biết điều này,
con thấy điều này: năm căn này khi được tu tập và phát triển,
lấy Bất Tử làm nền tảng, lấy Bất Tử làm mục tiêu, và Bất Tử làm
cứu cánh.”
Chú Thích
Uruvelā là nơi Đức
Phật thành đạo, thuộc quốc độ
Magadha, gần thị trấn Senānigama. Uruvelā có ba đặc điểm
khiến Bồ-tát chọn làm nơi tu khổ hạnh:
rừng cây đẹp, dòng sông Nerañjarā trong sạch, làng mạc gần đó dễ khất
thực. Theo Sớ giải đó là một vùng đất đáng yêu thích cho hành
giả tu tập (ramaṇīyo bhūmibhāgo)
Cây Ajapāla Nigrodha (aja = dê + pāla = người chăn +
nigrodha = cây đa):“Cây đa của người chăn dê”. Sau khi
thành đạo, trong bảy tuần lễ , Đức Phật an trú ở nhiều cây khác
nhau quanh Bồ-đề đạo tràng: cây Bodhi,
cây Ajapāla, cây Rājāyatana.
Phạm thiên Sahampati vốn
là một tỳ khưu tên Sahaka thời Phật Kassapa. Do tu tập chứng
thiền, sanh về Phạm thiên. Sau đó trở thành Brahmā Sahampati.
Trong kinh điển. Phạm thiên Sahampati là Brahmā hộ pháp
seyyathāpi nāma balavā puriso đây là thành ngữ Pāli thường
dùng có nghĩa là sự di chuyển cực nhanh. Brahmā có thần lực nên
có thể hiện ra hay biến mất trong khoảnh khắc.
ekaṃsaṃ uttarāsaṅgaṃ karitvā (đắp thượng y một bên) là cử chỉ cung kính trong Phật giáo và văn hoá cổ truyền Ấn Độ mang ý
nghĩa bày tỏ tôn kính hay
chuẩn bị đảnh lễ
bhāvitā bahulīkatā là thuật ngữ rất quan trọng.
bhāvitā nghĩa là được tu tập,
làm cho lớn mạnh. Bahulīkatā
nghĩa là được thực hành thường xuyên, Sớ giải chú thích là
punappunaṃ katā (được làm đi làm lại).
Amata chỉ cho
Niết-bàn (Amata nāma Nibbānaṃ
- Bất tử chính là Niết-bàn. Amatogadha (lấy bất tử làm nền
tảng); amataparāyana (lấy bất tử làm quy hướng); amatapariyosāna
(lấy bất tử làm cứu cánh)
Sớ Giải
Patiṭṭhitasuttādivaṇṇanā
526-527. chaṭṭhe cittaṃ rakkhati
āsavesu ca sāsavesu ca dhammesūti tebhūmakadhamme ārabbha
āsavuppattiṃ vārento āsavesu ca sāsavesu ca dhammesu cittaṃ
rakkhati nāma. sattamaṃ uttānameva.
526–527. Trong bài kinh thứ sáu:
“Phòng hộ tâm đối với các lậu hoặc và các pháp có lậu hoặc”
Bài kinh thứ bảy (sattamaṃ) rõ ràng, dễ hiểu (uttānameva).
|