BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 17 tháng 03, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 48. Tương Ưng Quyền -Phẩm Hang Heo Rừng- SN 48.58-
Bài 628. TÔN SƯ, TRỌNG ĐẠO TRONG Ý NGHĨA CAO NHẤT -

Kinh Hang Heo Rừng (Sūkarakhatasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-628.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Người đã đi đến tận cùng con đường, không còn gì để làm, không còn gì để đắc – nhưng vẫn giữ thái độ "tôn kính tối thượng" đối với Tam Bảo và sự tu tập. Điều này điều chỉnh một hiểu lầm phổ biến: rằng giải thoát là trở nên tự mãn hoặc tách biệt. Ngược lại, càng gần với chân lý, cái "tôi" càng tan biến, nhường chỗ cho sự kính trọng tuyệt đối đối với lộ trình đã dẫn dắt mình. Sự khiêm cung ở đây không phải là lễ nghi hình thức, mà là sự thể hiện tự nhiên của một tâm tuyện đối không còn kiêu mạn và thật sự cảm nhận giá trị cao cả đích thực của Phật cũng như giáo pháp.
Kinh Văn

528. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate sūkarakhatāyaṃ. tatra kho bhagavā āyasmantaṃ sāriputtaṃ āmantesi — “kiṃ nu kho, sāriputta, atthavasaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti {pavattetīti (sī.)}?
“anuttarañhi, bhante, yogakkhemaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti. “sādhu sādhu, sāriputta! anuttarañhi, sāriputta, yogakkhemaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti.
“katamo ca, sāriputta, anuttaro yogakkhemo yaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti? “idha, bhante, khīṇāsavo bhikkhu saddhindriyaṃ bhāveti upasamagāmiṃ sambodhagāmiṃ, vīriyindriyaṃ bhāveti ... pe ... satindriyaṃ bhāveti ... pe ... samādhindriyaṃ bhāveti ... pe ... paññindriyaṃ bhāveti upasamagāmiṃ sambodhagāmiṃ. ayaṃ kho, bhante, anuttaro yogakkhemo yaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti. “sādhu sādhu, sāriputta! eso hi, sāriputta, anuttaro yogakkhemo yaṃ sampassamāno khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti.
“katamo ca, sāriputta, paramanipaccakāro yaṃ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti? “idha, bhante, khīṇāsavo bhikkhu satthari sagāravo viharati sappatisso {sappaṭisso (syā. kaṃ. ka.)}, dhamme sagāravo viharati sappatisso, saṅghe sagāravo viharati sappatisso, sikkhāya sagāravo viharati sappatisso, samādhismiṃ sagāravo viharati sappatisso. ayaṃ kho, bhante, paramanipaccakāro yaṃ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti. “sādhu sādhu, sāriputta! eso hi, sāriputta, paramanipaccakāro yaṃ khīṇāsavo bhikkhu tathāgate vā tathāgatasāsane vā paramanipaccakāraṃ pavattamāno pavattatī”ti. aṭṭhamaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn đang ngự tại Rājagaha, trên núi Vulture Peak, trong Hang Heo. Tại đây, Thế Tôn nói với Tôn giả Sāriputta như sau:

“Này Sāriputta, do thấy lợi ích gì mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc lại hành trì theo cách biểu hiện sự tôn kính tối thượng đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai?”

“Bạch Thế Tôn, do thấy lợi ích là sự an ổn tối thượng khỏi mọi trói buộc, nên một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hành trì theo cách biểu hiện sự tôn kính tối thượng đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.”

“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, chính do thấy lợi ích là sự an ổn tối thượng khỏi mọi trói buộc mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hành trì theo cách biểu hiện sự tôn kính tối thượng đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.

“Và này Sāriputta, thế nào là sự an ổn tối thượng khỏi mọi trói buộc mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc thấy là lợi ích khi hành trì như vậy đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai?”

“Ở đây, bạch Thế Tôn, một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Vị ấy tu tập tấn căn… niệm căn… định căn… tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ.

Bạch Thế Tôn, đó là sự an ổn tối thượng khỏi mọi trói buộc mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc thấy là lợi ích khi hành trì theo cách biểu hiện sự tôn kính tối thượng đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.”

“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, đó chính là sự an ổn tối thượng khỏi mọi trói buộc mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc thấy là lợi ích khi hành trì theo cách biểu hiện sự tôn kính tối thượng đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.

“Và này Sāriputta, thế nào là sự tôn kính tối thượng mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hành trì đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai?”

“Ở đây, bạch Thế Tôn, một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc sống với tâm cung kính và tôn trọng đối với Bậc Đạo Sư, đối với Pháp, đối với Tăng, đối với học giới và đối với thiền định.

Bạch Thế Tôn, đó là sự tôn kính tối thượng mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hành trì đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.”

“Lành thay, lành thay, Sāriputta! Này Sāriputta, đó chính là sự tôn kính tối thượng mà một vị Tỳ-khưu đã đoạn tận các lậu hoặc hành trì đối với Như Lai và giáo pháp của Như Lai.”

Chú Thích

Hang Heo Rừng (Sūkarakhataleṇa) nằm trên núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa), ngoại vi thành Vương Xá (Rājagaha). Theo Chú giải, hang động này vốn là một am thất cổ từ thời Đức Phật Kassapa (Ca Diếp) bị đất đá vùi lấp qua thời gian. Một con lợn rừng đã đào bới làm lộ ra phần mái hang, sau đó một người thợ rừng đã phát hiện và tu sửa lại để dâng cúng cho Đức Phật Cồ Đàm. Hang có cấu trúc khá sâu, lối vào phải đi xuống rồi mới đi lên. Đây cũng là nơi tôn giả Sāriputta (Xá Lợi Phất) đắc quả A-la-hán khi đang nghe Đức Phật thuyết pháp cho du sĩ Dīghanakha (Trường Trảo).

Sự an ổn vô thượng khỏi các khổ ách (Anuttaraṃ Yogakkhemaṃ)là một cụm từ đặc biệt để chỉ quả vị A-la-hán (Arahatta).

Sự tôn kính tối thượng (Paramanipaccakāraṃ) có nghĩa là không chỉ là sự cung kính bề ngoài, mà là sự vâng phục và khiêm cung tuyệt đối từ bên trong (hành vi của một bậc Thánh). Đối tượng tôn kính bao gồm 5 đối tượng (Ngũ đức):Bậc Đạo Sư (Phật, Pháp (Dhamma), Tăng (Saṅgha), học giới (Sikkhā), thiền định (Samādhi)

Tỳ-khưu Lậu tận (Khīṇāsava Bhikkhu) chỉ cho bậc đã đoạn tận các Lậu hoặc (Asavas): gồm Dục lậu, Hữu lậu, kiến lậu và Vô minh lậu. Đây là danh hiệu khác của bậc A-la-hán, người đã hoàn tất phận sự tu hành.

Sớ Giải

528. aṭṭhame sūkarakhatāyanti sūkarakhataleṇe. kassapabuddhakāle kira taṃ leṇaṃ ekasmiṃ buddhantare pathaviyā vaḍḍhamānāya antobhūmigataṃ jātaṃ. athekadivasaṃ eko sūkaro tassa chadanapariyantasamīpe paṃsuṃ khaṇi. deve vuṭṭhe paṃsu dhotā, chadanapariyanto pākaṭo ahosi. eko vanacarako disvā “pubbe sīlavantehi paribhuttaṭṭhānena bhavitabbaṃ, paṭijaggissāmi nan”ti samantato paṃsuṃ apanetvā leṇaṃ sodhetvā kuṭiparikkhepaṃ katvā dvāravātapānaṃ yojetvā supariniṭṭhitasudhākammacittakammaṃ rajatapaṭṭasadisāya vālikāya santharitaṃ pariveṇaṃ katvā mañcapīṭhaṃ paññāpetvā bhagavato vasanatthāya adāsi, leṇaṃ gambhīraṃ ahosi otaritvā āruhitabbaṃ. taṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ. paramanipaccakāranti bhāvanapuṃsakaṃ, paramanipaccakārī hutvā pavattamāno pavattatīti vuttaṃ hoti. anuttaraṃ yogakkhemanti arahattaṃ. sappatissoti sajeṭṭhako. sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti.

528. Trong bài kinh thứ tám (aṭṭhame):

"Sūkarakhatāyaṃ" có nghĩa là tại hang Heo Rừng (Sūkarakhataleṇe).

Tương truyền rằng, vào thời Đức Phật Kassapa (Ca Diếp), hang động này vốn đã tồn tại. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian giữa hai vị Phật (khi giáo pháp vị trước mất đi và vị sau chưa ra đời), do mặt đất bồi đắp dần lên nên hang động này đã bị vùi sâu dưới lòng đất.

Rồi một ngày nọ, có một con lợn rừng đã đào đất ở gần rìa mái của hang động đó. Khi trời mưa xuống, lớp đất bị rửa trôi, làm lộ ra phần rìa mái hang. Một người thợ rừng đi ngang qua trông thấy và nghĩ rằng: "Nơi này chắc hẳn trước kia từng là nơi trú ngụ của các bậc thạc đức (giới hạnh), ta nên chăm sóc và phục hồi nó." Người ấy bèn dọn sạch đất đá xung quanh, tẩy uế hang động, dựng vách bao quanh, lắp đặt cửa chính và cửa sổ. Sau đó, người ấy hoàn thiện việc trát vôi và vẽ các họa tiết trang trí, rải cát trắng mịn như tấm lụa bạc khắp sân, rồi sắp đặt giường, ghế và dâng cúng lên Thế Tôn làm nơi trú ngụ. Hang động này khá sâu, phải đi xuống rồi mới đi lên được. Đó là ý nghĩa của tên gọi này.

Paramanipaccakāraṃ: Thuật ngữ này được dùng như một trạng từ (thể hiện thái độ), có nghĩa là hành xử với sự khiêm cung và tôn kính tối thượng.

Anuttaraṃ yogakkhemaṃ: Nghĩa là quả vị A-la-hán (Arahatta).

Sappatisso: Nghĩa là có sự kính trọng, có tôn ti trật tự (biết kính trên nhường dưới).

Các phần còn lại đều có ý nghĩa rõ ràng (uttānatthamevāti).

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VI. Phẩm Thứ Sáu

58. VIII. Hang Con Gấu (S.v,233)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Gijjhakuuta (núi Linh Thứu) trong hang Con Gấu (suukarakhatà).

2) Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sàriputta:

-- Do thấy lý do gì, này Sàriputta, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai?

-- Vì thấy vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

3) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Do thấy vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sàriputta, nên Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

4) Thế nào là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay lời giảng dạy của Như Lai?

5) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc tu tập tín căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ... tấn căn... niệm căn... định căn... tu tập tuệ căn, đưa đến an tịnh, đưa đến giác ngộ. Ðây là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, bạch Thế Tôn, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

6) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, này Sàriputta, do thấy vậy, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.

7) Và này Sàriputta, thế nào là sự tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?

8) -- Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc sống tôn trọng, cung kính bậc Ðạo Sư; sống tôn trọng, cung kính Pháp; sống tôn trọng, cung kính chúng Tăng; sống tôn trọng, cung kính học giới; sống tôn trọng, cung kính Thiền định. Ðây là sự tối thượng tôn kính, bạch Thế Tôn, mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc; bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay lời giảng dạy của Như Lai.

9) -- Lành thay, lành thay, này Sàriputta! Cái này là tối thượng tôn kính mà Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc bày tỏ sự tối thượng tôn kính đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai.