BÀI HỌC HẰNG NGÀY
Thứ Ba, ngày 24 tháng 03, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 49. Tương Ưng Chánh
Cần- SN 49.1 đến 45-
Bài 632. NHỮNG BÀI KINH TRONG TƯƠNG ƯNG CHÁNH CẦN
...
 Tứ chánh cần là một trong 7 chủ đề của
các “pháp giác phần”. Sự tinh cần có mặt trong cả 6 chủ đề ngoại
trừ tứ niệm xứ. Ý nghĩa của bốn pháp chánh cần đã được giảng
giải trong bài “dẫn nhập tương ưng chánh cần”. Trọn Tương Ưng
Chánh Cần gồm những bài kinh mang ý nghĩa như các tương ưng đạo
chi, giác chi, ngũ căn đã đi qua nên chỉ lược giảng trong một
bài học.
Kinh Văn
I. PHẨM SÔNG HẰNG TRÙNG THUYẾT
1–12. Kinh Sông Hằng
chảy về phương Đông, v.v.
Tại Sāvatthī. Đức Thế Tôn dạy như sau:
“Này các Tỳ khưu, có bốn chánh cần. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ khưu:
-
Vị Tỳ khưu khởi lên ý muốn làm cho
các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi với cố
gắng, nỗ lực, tận tâm, quyết chí.
-
Vị ấy khởi lên ý muốn đoạn trừ các
pháp ác, bất thiện đã với cố gắng, nỗ lực, tận tâm, quyết
chí.
-
Vị ấy khởi lên ý muốn làm cho các
pháp thiện chưa sinh được sinh khởi với cố gắng, nỗ lực, tận
tâm, quyết chí.
-
Vị ấy khởi lên ý muốn duy trì các
pháp thiện đã sinh, không suy giảm, tăng trưởng, phát triển
và viên mãn với cố gắng, nỗ lực, tận tâm, quyết chí.
Đó là bốn chánh cần.”
“Này các Tỳ khưu, cũng như sông Hằng nghiêng về phương Đông,
xuôi về phương Đông, hướng về phương Đông; cũng vậy, vị Tỳ khưu
tu tập và phát triển bốn chánh cần thì nghiêng về Niết-bàn, xuôi
về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn.”
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là vị Tỳ khưu tu tập và phát triển bốn chánh
cần khiến tâm hướng về Niết-bàn?
Ở đây, vị ấy:
-
Làm cho pháp ác chưa sinh không
sinh…
-
Đoạn trừ pháp ác đã sinh…
-
Làm cho pháp thiện chưa sinh được
sinh…
-
Duy trì pháp thiện đã sinh, không
suy giảm, tăng trưởng, phát triển và viên mãn; nỗ lực, tinh
tấn, tác ý, cố gắng.
Đó là bốn chánh cần.”
“Chính như vậy, này các Tỳ khưu, vị Tỳ khưu tu tập bốn chánh cần
sẽ hướng tâm về Niết-bàn.”
Sáu bài nói về hướng Đông,
Và sáu bài nói về hướng biển.
Hai nhóm sáu thành mười hai:
Đó là cách tụng phẩm này.
II. PHẨM TINH CẦN
13–22. Kinh Như Lai,
v.v.
(Sẽ được triển khai theo bốn chánh cần)
1.
Như Lai, dấu chân, đỉnh mái,
Rễ, lõi cây, hoa lài,
Chuyển luân vương, trăng và mặt trời,
Cùng với tấm vải là thứ mười.
III. PHẨM CÔNG PHU
23–34.
“Này các Tỳ khưu, cũng như mọi công việc tinh cần đều nương trên
đất, được thiết lập trên đất; cũng vậy, nương trên giới, an trú
trên giới, vị Tỳ khưu tu tập và phát triển bốn chánh cần.
Và này các Tỳ khưu, thế nào là như vậy?
Ở đây, vị Tỳ khưu:
-
Làm cho pháp ác chưa sinh không
sinh…
-
Đoạn trừ pháp ác đã sinh…
-
Làm cho pháp thiện chưa sinh được
sinh…
-
Duy trì pháp thiện đã sinh, không
suy giảm, tăng trưởng, phát triển và viên mãn; nỗ lực, tinh
tấn, tác ý, cố gắng.
Đó là bốn chánh cần.”
“Chính như vậy, vị Tỳ khưu nương trên giới, an trú trên giới, tu
tập bốn chánh cần.”
4.
Tinh tấn, hạt giống, và loài rồng,
Cây, bình, và cọc nhọn,
Hư không, và hai trên mây,
Con thuyền, nhà khách, và dòng sông.
IV. PHẨM TẦM CẦU
35–44.
“Này các Tỳ khưu, có ba tầm cầu:
-
Tầm cầu dục lạc
-
Tầm cầu hữu
-
Tầm cầu phạm hạnh
Bốn chánh cần cần được tu tập để:
-
Liễu tri
-
Hiểu biết trọn vẹn
-
Đoạn tận
-
Từ bỏ chúng.”
(Bốn chánh cần như trên)
4.
Tầm cầu, phân biệt, lậu hoặc,
Các loại hữu, ba loại khổ,
Sự cằn cỗi, cấu uế, phiền não,
Cảm thọ, ái và khát ái.
V. BỘC LƯU
45–53.
(Sẽ được triển khai tương tự)
54. Thượng phần kiết
sử
“Này các Tỳ khưu, có năm thượng phần kiết sử:
Năm pháp gì? sắc ái , vô sắc ái, mạn, dao động, và vô minh.
Bốn chánh cần cần được tu tập để:
-
Liễu tri
-
Hiểu biết trọn vẹn
-
Đoạn tận
-
Từ bỏ chúng.”
(Bốn chánh cần như trên)
4.
Bộc lưu, trói buộc, các loại chấp thủ,
Trói buộc, tùy miên,
Dây dục, các triền cái,
Uẩn, hạ phần và thượng phần kiết sử.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[49] Chương V
Tương Ưng Chánh Cần
-ooOoo-
I. Phẩm Sông Hằng Rộng Thuyết
1-12.(I-XII) (S.v,244)
1-2) Tại Sàvatthi. Tại đấy, Thế Tôn nói như sau :
-- Này các Tỷ-kheo, có bốn chánh cần này. Thế nào là bốn ?
3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện
pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần,
tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
4) Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn đoạn
tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
5) Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho
sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
6) Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an
trú, không cho vong thất (asammosàya), làm cho tăng trưởng, làm
cho quảng đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn,
quyết tâm, cố gắng.
7) Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn chánh cần.
8) Ví như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông,
hướng về phương Ðông, xuôi về phương Ðông. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn
chánh cần, thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về
Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, bốn chánh cần tu tập làm cho sung mãn
như thế nào, lại thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về
Niết-bàn ?
9) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện
pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần,
tinh tấn, quyết tâm, cố gắng; đối với các ác, bất thiện pháp đã
sanh, khởi lên ý muốn đoạn tận, tinh cần... cố gắng; đối với các
thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn làm cho sanh khởi... cố
gắng; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho an
trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng
đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố
gắng.
10) Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập bốn chánh cần, làm
cho sung mãn bốn chánh cần, thiên về Niết-bàn, hướng về
Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
II. Phẩm Không Phóng Dật
13-22.I-X. (S.v,245)
Gồm các kinh :
Như Lai, Chân, Nóc Nhọn, Căn, Lõi Cây, Hạ Sanh Hoa, Vua, Mặt
Trăng, Mặt Trời, Vải; tất cả là mười.
III. Phẩm Việc Làm Cần Sức Mạnh
23-34.I-XII. (S.v,246)
1) ...
2) -- Ví như, này các Tỷ-kheo, phàm có những việc làm cần dùng
đến sức mạnh mà làm tất cả công việc ấy, được làm y cứ vào đất,
an trú vào đất. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào
giới, an trú vào giới, tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn
bốn chánh cần.
3) Như thế nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú
vào giới, tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần ?
4-7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện
pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi, tinh cần,
tinh tấn, quyết tâm, cố gắng... đối với các thiện pháp đã sanh,
khởi lên ý muốn an trú, không cho vong thất, làm cho tăng
trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho sung mãn, tinh cần,
tinh tấn, quyết tâm, cố gắng.
8) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào
giới, tu tập bốn chánh cần, làm cho sung mãn bốn chánh cần.
IV. Phẩm Tầm Cầu
35-44.I-X. (S.v,246)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, có ba tầm cầu này. Thế nào là ba ? Dục
tầm cầu, hữu tầm cầu, Phạm hạnh tầm cầu. Những pháp này, này các
Tỷ-kheo, là ba tầm cầu.
3) Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận ba tầm cầu này,
này các Tỷ-kheo, bốn chánh cần này cần phải tu tập. Thế nào là
bốn ?
4-7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các ác, bất thiện
pháp chưa sanh...; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý
muốn làm cho an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng,
làm cho quảng đại, tu tập, làm cho sung mãn, tinh cần, tinh tấn,
quyết tâm, cố gắng.
8) Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận ba tầm cầu này,
bốn chánh cần này cần phải tu tập.
V. Phẩm Bộc Lưu
45-43.I-X (S.v,247)
54.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,247)
1) ...
2) -- Có năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo. Thế nào
là năm ? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Những
pháp này, này các Tỷ-kheo, là năm thượng phần kiết sử.
3) Ðể thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần
kiết sử này, bốn chánh cần này cần phải tu tập. Thế nào là bốn ?
4-7) Ở đây, này các Tỷ-kheo, đối với các ác, bất thiện pháp chưa
sanh...; đối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn làm cho
an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng
đại, tu tập, làm cho viên mãn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố
gắng.
8) Chính để thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng
phần kiết sử này, bốn chánh cần này cần phải tu tập.
|