|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 28 tháng 03, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 636.MỘT SỐ BÀI KINH DẪN NHẬP TƯƠNG ƯNG THẦN TÚC - Kinh Từ Bờ Gần (Apārasuttaṃ), Kinh Bị Bỏ Bê (Viraddhasuttaṃ), Kinh Cao quý (Ariyasuttaṃ), Kinh Yểm Ly (nibbidāsuttaṃ), Một Phần (iddhipadesasuttaṃ), Kinh Trọn Vẹn (Samattasuttaṃ), Kinh Tỳ khưu (Bhikkhusuttaṃ), Kinh Phật Đà (Buddhasuttaṃ) .
“Tứ Thần Túc” (Iddhipāda) là bốn
nền tảng nội tâm kỳ diệu dẫn hành giả đến năng lực siêu việt của
tâm, không phải là thần thông theo nghĩa huyền bí, mà là sức
mạnh của sự tu tập được kết tinh từ tinh cần và chánh niệm. Bốn
yếu tố ấy gồm: dục (chanda) – ước muốn chân chánh; cần (viriya)
– nỗ lực không thoái chuyển; tâm (citta) – là tâm thái tương
thích; và thẩm (vīmaṃsā) – khả năng quán chiếu chính xác. Khi
bốn pháp này được nuôi dưỡng hài hòa, tâm trở nên vững mạnh,
linh hoạt và sáng suốt, có thể vượt qua những giới hạn thông
thường của tham, sân, si. Tứ Thần Túc chính là con đường nội lực
giúp hành giả “làm chủ tâm mình”, từ đó làm chủ đời sống, tiến
dần đến giải thoát.
Kinh Văn
(1) Kinh Từ Bờ Gần (Apārasuttaṃ)
813. “cattārome bhikkhave, iddhipādā bhāvitā
bahulīkatā apārā pāraṃ gamanāya saṃvattanti.
katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu
chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti,
vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti,
cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti,
vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bhikkhave,
cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā apārā
pāraṃ gamanāya saṃvattantī”ti. paṭhamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho
sung mãn, sẽ dẫn đến sự vượt qua từ bờ gần sang bờ bên kia.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu tu tập
như ý túc có cùng với dục thần túc. Vị ấy tu tập dục thần túc
với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với
tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam
muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam
muội định và lực vận hành.
Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho
sung mãn, sẽ dẫn đến sự vượt qua từ bờ gần sang bờ bên kia.”
(2) Kinh Bị Bỏ Bê (Viraddhasuttaṃ)
814. “yesaṃ kesañci, bhikkhave, cattāro iddhipādā viraddhā,
viraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī. yesaṃ
kesañci, bhikkhave, cattāro iddhipādā āraddhā, āraddho tesaṃ
ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī. katame cattāro? idha,
bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe
... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ
bhāveti. yesaṃ kesañci, bhikkhave, ime cattāro iddhipādā
viraddhā, viraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī.
yesaṃ kesañci, bhikkhave, ime cattāro iddhipādā āraddhā, āraddho
tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī”ti. dutiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, những ai bỏ bê bốn Như ý túc là đã bỏ bê con
đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau. Những ai thực hành bốn
Như ý túc là đã thực hành con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận
khổ đau.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu tu tập
như ý túc có cùng với dục thần túc. Vị ấy tu tập dục thần túc
với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với
tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam
muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam
muội định và lực vận hành.
“Này các Tỳ khưu, những ai bỏ bê bốn Như ý túc là đã bỏ bê con
đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau. Những ai thực hành bốn
Như ý túc là đã thực hành con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận
khổ đau.
(3) Kinh Cao quý (Ariyasuttaṃ)
815. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā bhāvitā bahulīkatā ariyā
niyyānikā niyyanti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. katame
cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu
chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti,
vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... iddhipādaṃ
bhāveti, vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ
bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā bhāvitā
bahulīkatā ariyā niyyānikā niyyanti takkarassa sammā
dukkhakkhayāyā”ti. tatiyaṃ.
“Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho
sung mãn, là cao quý và giải thoát; chúng đưa người thực hành
đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Bốn Như ý túc này … đưa người thực hành đến sự đoạn tận hoàn
toàn khổ đau.”
(4) Kinh Yểm Ly (nibbidāsuttaṃ)
816. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā bhāvitā bahulīkatā
ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya
sambodhāya nibbānāya saṃvattanti. katame cattāro? idha,
bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe
... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ
bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā bhāvitā
bahulīkatā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya
abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantī”ti. catutthaṃ.
“Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho
sung mãn, đưa đến sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng
trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Bốn Như ý túc này … đưa đến Niết-bàn.”
(5) Một Phần (iddhipadesasuttaṃ)
817. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā
vā iddhipadesaṃ abhinipphādesuṃ sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ
bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave,
anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ
abhinipphādessanti sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā
bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā
vā iddhipadesaṃ abhinipphādenti sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ
bhāvitattā bahulīkatattā.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong
quá khứ đã chứng được thần lực một phần, tất cả đều do đã tu tập
và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay
bà-la-môn nào trong tương lai sẽ chứng được thần lực một phần,
tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc.
Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào hiện tại chứng được thần
lực một phần, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn
Như ý túc.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá
khứ … trong tương lai … hiện tại chứng được thần lực một phần,
tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này.”
(6) Kinh Trọn Vẹn (Samattasuttaṃ)
818. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā
vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādesuṃ, sabbe te catunnaṃ
iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave,
anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ
abhinipphādessanti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā
bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā
vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādenti, sabbe te catunnaṃ
iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong
quá khứ đã chứng được thần lực trọn vẹn, tất cả đều do đã tu tập
và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay
bà-la-môn nào trong tương lai sẽ chứng được thần lực trọn vẹn,
tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc.
Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào hiện tại chứng được thần
lực trọn vẹn, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn
Như ý túc.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá
khứ … trong tương lai … hiện tại chứng được thần lực trọn vẹn,
tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này.”
(7) Kinh Tỳ khưu (Bhikkhusuttaṃ)
819. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ
khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ
abhiññā sacchikatvā upasampajja vihariṃsu, sabbe te catunnaṃ
iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave,
anāgatamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā
upasampajja viharissanti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ
bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi bhikkhū
āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva
dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti, sabbe te
catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong quá khứ, do
đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này đã chứng nhập và an
trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng
ngộ với thắng trí, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn
bốn Như ý túc. Bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong tương lai, do
đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này sẽ chứng nhập và an
trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng
ngộ với thắng trí, tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung
mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những vị Tỳ khưu nào hiện tại, do đoạn
tận các lậu hoặc, ngay trong đời này chứng nhập và an trú trong
tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với
thắng trí, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý
túc.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Này các Tỳ khưu, bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong quá khứ …
trong tương lai … hiện tại … chứng nhập và an trú trong tâm giải
thoát vô lậu, tuệ giải thoát … tất cả đều do đã tu tập và làm
cho sung mãn bốn Như ý túc này.”
(8) Kinh Phật Đà (Buddhasuttaṃ)
820. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā. katame cattāro? idha,
bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe
... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ
bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā. imesaṃ kho,
bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā
tathāgato ‘arahaṃ sammāsambuddho’ti vuccatī”ti. aṭṭhamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, có bốn Như ý túc này.
Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu
tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị
ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy
tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu
tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.
Đây là bốn Như ý túc. Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn
Như ý túc này mà Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, bậc Chánh
Đẳng Giác.”
Chú Thích
Sớ giải phân tích từ iddhipāda
thành hai cách hiểu:
Từ iddhi, xuất phát từ động từ ijjhati — nghĩa là thành đạt,
thành công, hưng thịnh — nguyên thủy có nghĩa là “thành tựu”. Do
vậy trong Hán Tạng dịch thuật ngữ
iddhipāda theo từ ngữ là “thần túc”; dịch theo nghĩa là
“như ý túc” Nhưng vào thời Đức Phật, từ này đã mang sắc thái đặc
biệt là thành tựu nội lực siêu nhiên, hay chính xác hơn là thần
lực.
Thần lực này có hai loại:
1.
Thành tựu trong việc vận dụng các thần thông (iddhividha) (như
tại 51:11, 14, 17)
2.
Thành tựu trong nỗ lực đạt đến giải thoát
Hai phương diện này hội tụ nơi quả vị A-la-hán, vốn vừa là thắng
trí thứ sáu (abhiññā) (liên hệ với thần thông), vừa là kết quả
tối hậu của Bát Thánh Đạo. Một khảo luận đầy đủ về các loại thần
lực được đề cập trong Kinh điển có thể tìm thấy tại Vô Ngại Giải
(Paṭisambhida) 205–214.
Tên gọi đầy đủ của bốn thần túc
có phần dài dòng và khó chuyển ngữ ngắn gọn:
1.
chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (dục
thần túc với tam muội định và lực vận hành).
2.
vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ
(cần thần túc với tam
muội định và lực vận hành).
3.
cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (tâm
thần túc với tam muội định và lực vận hành).
4.
vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (thẩm
thần túc với tam muội định và lực vận hành).
(Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là:
tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như
ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý
túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu
hữu với tư duy định tinh cần hành).
Theo Sớ giải, một thần túc bao gồm ba thành phần chính:
1.
Tam muội định (samādhi)
chỉ cho sự tôi luyện thuần thục của tâm định
2.
Bốn lực vận hành (padhānasaṅkhārā)
chỉ cho bốn yếu tố đặc thù của định
3.
Bốn yếu tố đặc thù tạo ra định,
gồm: Dục (chanda), cần (viriya), Tâm (citta), thẩm (vīmaṃsā)
Trong khi định và nỗ lực là yếu tố chung cho cả bốn Như ý túc,
thì chính bốn yếu tố sau cùng này làm cho chúng được phân thành
bốn loại khác nhau.
Dục thần túc(chanda)
là động lực của sự mong muốn tu tập, tạo nên khuynh hướng nhất
quán trong sự tu tập.
Cần thần túc (vīriya)
là sự cố gắng liên tục; không xao lãng.
Tâm thần túc (citta)
là tâm tương thích với sự tu tập.
Thẩm thần túc (vīmaṃsā)
là sự quán sát tinh tế với nhận thức chính xác trong từng bước
của sự tu tập.
Công thức này được phân tích ở đoạn 51:13. Các thuật ngữ được
giải thích chi tiết hơn, theo phương pháp của Kinh Tạng, tại
Vibh 216–220. Như thường lệ, phần phân tích của Abhidhamma, tại
Vibh 220–224, xem các Như ý túc như những yếu tố của các đạo
siêu thế. Những giải thích bổ sung được tìm thấy tại Thanh Tịnh
Đạo (Vism) 385 (Ppn 12:50–53) và Chú giải Vibhanga (Vibh-a)
303–308.
Sớ giải chỉ chú thích bài kinh đầu tiên.
Sớ Giải
813. iddhipādasaṃyuttassa paṭhame chandaṃ nissāya pavatto
samādhi chandasamādhi. padhānabhūtā saṅkhārā padhānasaṅkhārā.
samannāgatanti tehi dhammehi upetaṃ. iddhiyā pādaṃ, iddhibhūtaṃ
vā pādanti iddhipādaṃ. sesesupi eseva nayo. ayamettha saṅkhepo,
vitthāro pana iddhipādavibhaṅge (vibha. 431 ādayo) āgatova.
visuddhimagge (visuddhi. 2.3.69 ādayo) panassa attho dīpito.
tathā maggabojjhaṅgasatipaṭṭhānasaṃyuttesu ceva idha ca
ekaparicchedova.
813.
Trong phẩm đầu của Tương Ưng Như Ý Túc,
định khởi lên nương vào dục
được gọi là dục định tam muội (chandasamādhi).
Nỗ lực chính yếu
được gọi là lực vận hành (padhānasaṅkhārā).
“Samannāgataṃ” nghĩa là được
đầy đủ, được kết hợp với các pháp ấy.
“Iddhipāda”
được hiểu là:
Trong các trường hợp còn lại cũng áp dụng cùng một phương pháp
giải thích như vậy.
Đây là phần trình bày tóm lược. Còn phần chi tiết đã được nói
đến trong Vibhanga về Như ý túc
(Vibhaṅga, đoạn 431 trở đi).
Ý nghĩa của pháp này cũng được giải thích trong
Thanh Tịnh Đạo
(Visuddhimagga 2.3.69 trở đi).
Và trong các Tương Ưng về Đạo, Giác
chi và Niệm xứ, cũng như ở đây, đều được trình bày theo
cùng một phạm vi phân tích như nhau.
|