BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 28 tháng 03, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 51. Tương Ưng THần Túc- Phẩm Cāpāla- SN 51.1 đến 8-
Bài 636.MỘT SỐ BÀI KINH DẪN NHẬP TƯƠNG ƯNG THẦN TÚC -

Kinh Từ Bờ Gần (Apārasuttaṃ), Kinh Bị Bỏ Bê (Viraddhasuttaṃ), Kinh Cao quý (Ariyasuttaṃ), Kinh Yểm Ly (nibbidāsuttaṃ), Một Phần (iddhipadesasuttaṃ), Kinh Trọn Vẹn (Samattasuttaṃ), Kinh Tỳ khưu (Bhikkhusuttaṃ), Kinh Phật Đà (Buddhasuttaṃ) .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-636.jpg http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png “Tứ Thần Túc” (Iddhipāda) là bốn nền tảng nội tâm kỳ diệu dẫn hành giả đến năng lực siêu việt của tâm, không phải là thần thông theo nghĩa huyền bí, mà là sức mạnh của sự tu tập được kết tinh từ tinh cần và chánh niệm. Bốn yếu tố ấy gồm: dục (chanda) – ước muốn chân chánh; cần (viriya) – nỗ lực không thoái chuyển; tâm (citta) – là tâm thái tương thích; và thẩm (vīmaṃsā) – khả năng quán chiếu chính xác. Khi bốn pháp này được nuôi dưỡng hài hòa, tâm trở nên vững mạnh, linh hoạt và sáng suốt, có thể vượt qua những giới hạn thông thường của tham, sân, si. Tứ Thần Túc chính là con đường nội lực giúp hành giả “làm chủ tâm mình”, từ đó làm chủ đời sống, tiến dần đến giải thoát.

Kinh Văn

(1) Kinh Từ Bờ Gần (Apārasuttaṃ)

813. “cattārome bhikkhave, iddhipādā bhāvitā  bahulīkatā apārā pāraṃ gamanāya saṃvattanti.  katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu  chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ  iddhipādaṃ bhāveti,  vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ  iddhipādaṃ bhāveti,  cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ  iddhipādaṃ bhāveti,  vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ  iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bhikkhave,  cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā apārā  pāraṃ gamanāya saṃvattantī”ti. paṭhamaṃ.   “Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ dẫn đến sự vượt qua từ bờ gần sang bờ bên kia.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu tu tập như ý túc có cùng với dục thần túc. Vị ấy tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, sẽ dẫn đến sự vượt qua từ bờ gần sang bờ bên kia.”

(2) Kinh Bị Bỏ Bê (Viraddhasuttaṃ)

814. “yesaṃ kesañci, bhikkhave, cattāro iddhipādā viraddhā, viraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī. yesaṃ kesañci, bhikkhave, cattāro iddhipādā āraddhā, āraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. yesaṃ kesañci, bhikkhave, ime cattāro iddhipādā viraddhā, viraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī. yesaṃ kesañci, bhikkhave, ime cattāro iddhipādā āraddhā, āraddho tesaṃ ariyo maggo sammā dukkhakkhayagāmī”ti. dutiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, những ai bỏ bê bốn Như ý túc là đã bỏ bê con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau. Những ai thực hành bốn Như ý túc là đã thực hành con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu tu tập như ý túc có cùng với dục thần túc. Vị ấy tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

“Này các Tỳ khưu, những ai bỏ bê bốn Như ý túc là đã bỏ bê con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau. Những ai thực hành bốn Như ý túc là đã thực hành con đường Thánh dẫn đến sự đoạn tận khổ đau.

(3) Kinh Cao quý (Ariyasuttaṃ)

815. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā bhāvitā bahulīkatā ariyā niyyānikā niyyanti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... iddhipādaṃ bhāveti, vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā ariyā niyyānikā niyyanti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā”ti. tatiyaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, là cao quý và giải thoát; chúng đưa người thực hành đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Bốn Như ý túc này … đưa người thực hành đến sự đoạn tận hoàn toàn khổ đau.”

(4) Kinh Yểm Ly (nibbidāsuttaṃ)

816. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā bhāvitā bahulīkatā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattanti. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantī”ti. catutthaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bốn Như ý túc này, khi được tu tập và làm cho sung mãn, đưa đến sự yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Bốn Như ý túc này … đưa đến Niết-bàn.”

(5) Một Phần (iddhipadesasuttaṃ)

817. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādesuṃ sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādessanti sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādenti sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā.
“katamesaṃ catunnaṃ? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādesuṃ, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādessanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā iddhipadesaṃ abhinipphādenti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā”ti. pañcamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã chứng được thần lực một phần, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ chứng được thần lực một phần, tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào hiện tại chứng được thần lực một phần, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ … trong tương lai … hiện tại chứng được thần lực một phần, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này.”

(6) Kinh Trọn Vẹn (Samattasuttaṃ)

818. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādesuṃ, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādessanti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādenti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā.
“katamesaṃ catunnaṃ? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādesuṃ, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādessanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā samattaṃ iddhiṃ abhinipphādenti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā”ti. chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ đã chứng được thần lực trọn vẹn, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong tương lai sẽ chứng được thần lực trọn vẹn, tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào hiện tại chứng được thần lực trọn vẹn, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Này các Tỳ khưu, bất cứ những sa-môn hay bà-la-môn nào trong quá khứ … trong tương lai … hiện tại chứng được thần lực trọn vẹn, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này.”

(7) Kinh Tỳ khưu (Bhikkhusuttaṃ)

819. “ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihariṃsu, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissanti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti, sabbe te catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā.
“katamesaṃ catunnaṃ? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ye hi keci, bhikkhave, atītamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihariṃsu sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, anāgatamaddhānaṃ bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā. ye hi keci, bhikkhave, etarahi bhikkhū āsavānaṃ khayā anāsavaṃ cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharanti, sabbe te imesaṃyeva catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā”ti. sattamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong quá khứ, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này đã chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong tương lai, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này sẽ chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí, tất cả cũng đều do sẽ tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc. Bất cứ những vị Tỳ khưu nào hiện tại, do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong đời này chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát, tự mình chứng ngộ với thắng trí, tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Này các Tỳ khưu, bất cứ những vị Tỳ khưu nào trong quá khứ … trong tương lai … hiện tại … chứng nhập và an trú trong tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát … tất cả đều do đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này.”

(8) Kinh Phật Đà (Buddhasuttaṃ)

820. “cattārome, bhikkhave, iddhipādā. katame cattāro? idha, bhikkhave, bhikkhu chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti, vīriyasamādhi ... pe ... cittasamādhi ... pe ... vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ iddhipādaṃ bhāveti. ime kho, bhikkhave, cattāro iddhipādā. imesaṃ kho, bhikkhave, catunnaṃ iddhipādānaṃ bhāvitattā bahulīkatattā tathāgato ‘arahaṃ sammāsambuddho’ti vuccatī”ti. aṭṭhamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, có bốn Như ý túc này.

Bốn pháp là gì? Ở đây, này các Tỳ khưu, một vị Tỳ khưu  tu tập dục thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập cần thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành. Vị ấy tu tập thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành.

Đây là bốn Như ý túc. Chính vì đã tu tập và làm cho sung mãn bốn Như ý túc này mà Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác.”

Chú Thích

Sớ giải phân tích từ iddhipāda thành hai cách hiểu:

  • iddhiyā pādaṃ: “nền tảng cho thần lực”
  • iddhibhūtaṃ pādaṃ: “nền tảng chính là thần lực”

Từ iddhi, xuất phát từ động từ ijjhati — nghĩa là thành đạt, thành công, hưng thịnh — nguyên thủy có nghĩa là “thành tựu”. Do vậy trong Hán Tạng dịch thuật ngữ iddhipāda theo từ ngữ là “thần túc”; dịch theo nghĩa là “như ý túc” Nhưng vào thời Đức Phật, từ này đã mang sắc thái đặc biệt là thành tựu nội lực siêu nhiên, hay chính xác hơn là thần lực.

Thần lực này có hai loại:

1.    Thành tựu trong việc vận dụng các thần thông (iddhividha) (như tại 51:11, 14, 17)

2.    Thành tựu trong nỗ lực đạt đến giải thoát

Hai phương diện này hội tụ nơi quả vị A-la-hán, vốn vừa là thắng trí thứ sáu (abhiññā) (liên hệ với thần thông), vừa là kết quả tối hậu của Bát Thánh Đạo. Một khảo luận đầy đủ về các loại thần lực được đề cập trong Kinh điển có thể tìm thấy tại Vô Ngại Giải (Paṭisambhida) 205–214.

Tên gọi đầy đủ của bốn thần túc có phần dài dòng và khó chuyển ngữ ngắn gọn:

1.    chandasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (dục thần túc với tam muội định và lực vận hành).

2.    vīriyasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ  (cần thần túc với tam muội định và lực vận hành).

3.    cittasamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (tâm thần túc với tam muội định và lực vận hành).

4.    vīmaṃsāsamādhippadhānasaṅkhārasamannāgataṃ (thẩm thần túc với tam muội định và lực vận hành).

(Hoà thượng Thích Minh Châu dịch là: tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành).

Theo Sớ giải, một thần túc bao gồm ba thành phần chính:

1.    Tam muội định (samādhi) chỉ cho sự tôi luyện thuần thục của tâm định

2.    Bốn lực vận hành (padhānasaṅkhārā) chỉ cho bốn yếu tố đặc thù của định

3.    Bốn yếu tố đặc thù tạo ra định, gồm: Dục (chanda), cần (viriya), Tâm (citta), thẩm (vīmaṃsā)

Trong khi định và nỗ lực là yếu tố chung cho cả bốn Như ý túc, thì chính bốn yếu tố sau cùng này làm cho chúng được phân thành bốn loại khác nhau.

Dục thần túc(chanda) là động lực của sự mong muốn tu tập, tạo nên khuynh hướng nhất quán trong sự tu tập.  

Cần thần túc (vīriya) là sự cố gắng liên tục; không xao lãng.

Tâm  thần túc (citta) là tâm tương thích với sự tu tập.

Thẩm thần túc (vīmaṃsā) là sự quán sát tinh tế với nhận thức chính xác trong từng bước của sự tu tập.

Công thức này được phân tích ở đoạn 51:13. Các thuật ngữ được giải thích chi tiết hơn, theo phương pháp của Kinh Tạng, tại Vibh 216–220. Như thường lệ, phần phân tích của Abhidhamma, tại Vibh 220–224, xem các Như ý túc như những yếu tố của các đạo siêu thế. Những giải thích bổ sung được tìm thấy tại Thanh Tịnh Đạo (Vism) 385 (Ppn 12:50–53) và Chú giải Vibhanga (Vibh-a) 303–308.

Sớ giải chỉ chú thích bài kinh đầu tiên.

Sớ Giải

813. iddhipādasaṃyuttassa paṭhame chandaṃ nissāya pavatto samādhi chandasamādhi. padhānabhūtā saṅkhārā padhānasaṅkhārā. samannāgatanti tehi dhammehi upetaṃ. iddhiyā pādaṃ, iddhibhūtaṃ vā pādanti iddhipādaṃ. sesesupi eseva nayo. ayamettha saṅkhepo, vitthāro pana iddhipādavibhaṅge (vibha. 431 ādayo) āgatova. visuddhimagge (visuddhi. 2.3.69 ādayo) panassa attho dīpito. tathā maggabojjhaṅgasatipaṭṭhānasaṃyuttesu ceva idha ca ekaparicchedova.

813. Trong phẩm đầu của Tương Ưng Như Ý Túc, định khởi lên nương vào dục được gọi là dục định tam muội (chandasamādhi).

 Nỗ lực chính yếu được gọi là lực vận hành (padhānasaṅkhārā).

“Samannāgataṃ” nghĩa là được đầy đủ, được kết hợp với các pháp ấy.

“Iddhipāda” được hiểu là:

  • “Nền tảng của thần lực” (iddhiyā pādaṃ),
  • hoặc “Nền tảng chính là thần lực” (iddhibhūtaṃ pādaṃ).

Trong các trường hợp còn lại cũng áp dụng cùng một phương pháp giải thích như vậy.

Đây là phần trình bày tóm lược. Còn phần chi tiết đã được nói đến trong Vibhanga về Như ý túc (Vibhaṅga, đoạn 431 trở đi).

Ý nghĩa của pháp này cũng được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga 2.3.69 trở đi).

Và trong các Tương Ưng về Đạo, Giác chi và Niệm xứ, cũng như ở đây, đều được trình bày theo cùng một phạm vi phân tích như nhau.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tương Ưng Như Ý Túc

-ooOoo-

I. Phẩm Càpàla

1.I. Bờ Bên Kia (Tăng 29. 7 Ðại 2, 658a) (S.v,254)

1) ...

2) -- Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tinh tấn định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tâm định tinh cần hành; tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa từ bờ bên này đến bờ bên kia.

2.II. Thối Thất (S.v,254)

1) ...

2) -- Với những ai bốn như ý túc bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Với những ai bốn như ý túc được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành,... tinh tấn định,... tâm định... tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Với những ai bốn như ý túc này bị thối thất, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, bị thối thất là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau. Với những ai bốn như ý túc này được thực hiện, này các Tỷ-kheo, với những người ấy, được thực hiện là Thánh đạo đưa đến chơn chánh đoạn tận khổ đau.

3.III. Thánh (S.v, 255)

1) ...

2) -- Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, trở thành những Thánh lãnh đạo, dắt dẫn những ai thực hiện, đi đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc, câu hữu với dục định tinh cần hành; tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc, câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, trở thành những Thánh lãnh đạo, dắt dẫn những ai thực hiện, đi đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau.

4.IV. Yếm Ly (S.v,255)

1) ...

2) -- Có bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Bốn như ý túc này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến nhứt hướng yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

5.V. Một Phần (S.v,255)

1) ...

2) -- Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đã làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy sẽ làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại, này các Tỷ-kheo, có thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đang làm như thế nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành; tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện một phần như ý túc... sẽ thực hiện... đang thực hiện một phần như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.

6.VI. Toàn Diện (S.v,256)

1) ...

2) -- Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, sẽ thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, đang thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện toàn diện như ý túc... sẽ thực hiện toàn diện như ý túc... đang thực hiện toàn diện như ý túc; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc.

7.VII. Tỷ Kheo (S.v,257)

1) ...

2) -- Những Tỷ-kheo nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí đã chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả các vị ấy đều nhờ đã tu tập, đã làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những Tỷ-kheo nào trong thời tương lai, này các Tỷ-kheo, đã đoạn diệt các lậu hoặc ngay trong hiện tại, sẽ tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Những Tỷ-kheo nào trong thời hiện tại, này các Tỷ-kheo, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc. Thế nào là bốn?

3) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành.

4) Những Tỷ-kheo nào trong thời quá khứ, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, sau khi tự mình chứng ngộ với thắng trí, đã chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát... sẽ chứng đạt... đang chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập, nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc này.

8.VIII. Phật hay A-La-Hán (S.v,257)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn như ý túc này. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập như ý túc câu hữu với dục định tinh cần hành... tinh tấn định... tâm định... tu tập như ý túc câu hữu với tư duy định tinh cần hành. Những pháp này, này các Tỷ-kheo, là bốn như ý túc.

3) Do tu tập, do làm cho sung mãn bốn như ý túc này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.