|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy ngày 15 tháng 05, 2021 GIÁO TRÌNH KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA - CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM VƯỜN HOAN HỶ. (S.i,8)
NGÀY 15/05/2021 Bài 10. Kinh Samiddhi (Samiddhisuttaṃ) - Từ Chuyện Liêu Trai đến Đạo Giải Thoát.
Đây là bài kinh tương đối dài trong Tương Ưng Bộ. Câu chuyện
đằng sau bài kinh lại dài hơn. Tôn giả Samiddhi là một tỳ
kheo có thân tướng khả ái, uy nghi cốt cách. Điều lạ lùng là
một nữ địa tiên cũng sanh tâm ái luyến với vị tôn giả nầy.
Tiên nữ ấy đã hiện ra và khuyên Tôn giả nên trở về với đời
sống hưởng thụ dục lạc còn chuyện tu hành nên hạ hồi phân
giải. (Không có đoạn nào trong Sớ giải nói rõ nếu trong
trường hợp Tôn giả hoàn tục sống đời cư sĩ thì người thuộc
hai cảnh giới sống với nhau thế nào như những chuyện liêu
trai thời xưa). Tôn giả Samiddhi trả lời bằng thái độ khẳng
định chí hướng tu hành và nêu lên những trọng tâm của Phật
Pháp trong đời sống tu hành mà Đức Phật đã dạy. Tiên nữ nghe
xong thấy khó lãnh hội liền xin giải thích. Tôn giả vốn
không phải là vị giỏi thuyết pháp nên khuyên hày đến gặp Đức
Thế Tôn thỉnh giáo. Tiên nữ nhờ Tôn giả hỏi giúp. Cuối cùng
thì Đức Phật cũng đã trả lời một cách cô đọng về hai cái
nhìn đối với thực tại. Thực tại ở đây là năm uẩn. Cái nhìn
của phàm phu y cứ trên những gì được nói lại sanh ngã chấp:
tôi thấy(thức uẩn), tôi hành động (hành uẩn).. Trong cái
nhìn của bậc thánh thì khác hơn: thấy biết chỉ là thấy biết
chứ không có ai thấy biết. Không chấp ngã thì không có mạn
tuỳ miên được hiểu là sự so sánh là ngang bằng, thua kém,
vượt trội giữa ta và người. Có mạn chấp thì có tranh chấp,
có hệ luỵ khổ đau. Bậc thánh không còn bị giao động bởi kiến
chấp nhân ngã, bĩ thử thì an lạc, đoạn tận khổ ưu. Sau cùng
tiên nữ chứng sơ quả (tu đà huờn) và nói lên sự hiểu biết
đối với con đườn trung đạo mà Đức Phật truyền dạy.
Evaṃ me sutaṃ :
1) Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ Bhagavā rājagahe viharati tapodārāme.
Một thời Thế Tôn ở Vương Xá tại Tapodārāma (Tịnh xá Suối
nước nóng).
Atha kho āyasmā samiddhi rattiyā paccūsasamayaṃ paccuṭṭhāya
yena tapodā tenupasaṅkami gattāni parisiñcituṃ. Tapode
gattāni parisiñcitvā paccuttaritvā ekacīvaro aṭṭhāsi gattāni
pubbāpayamāno.
2) Tôn giả Samiddhi, khi đêm đã gần tàn, thức dậy và đi đến
suối nước nóng để tắm rửa tay chân. Sau khi tắm rửa tay
chân, ra khỏi suối nước nóng, Tôn giả đứng, đắp một tấm y để
phơi tay chân cho khô.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā
abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ tapodaṃ obhāsetvā yena āyasmā
samiddhi tenupasaṅkami upasaṅkamitvā vehāsaṃ ṭhitā
āyasmantaṃ samiddhiṃ gāthāya ajjhabhāsi :
3) Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với dung sắc thù
thắng, chói sáng toàn vùng suối nước nóng, đi đến Tôn giả
Samiddhi, sau khi đến, đứng giữa hư không, nói lên bài kệ
với Tôn giả Samiddhi:
Không hưởng, Ông khất thực,
na hi bhutvāna bhikkhasi.
Nay khất thực, không hưởng,
Bhutvāna bhikkhu bhikkhassu,
Hãy hưởng rồi khất thực,
mā taṃ kālo upaccagāti..
Chớ uổng phí thời gian.
Bản hiệu đính
Không hưởng thụ, mà tu
Tu rồi, không hưởng được
Hãy hưởng thụ rồi tu
Không phí kiếp làm người
(Samiddhi): ''Kālaṃ vohaṃ na jānāmi,
Thời Ông, ta không biết.
channo kālo na dissati.
Thời ta, ẩn không hiện.
Tasmā abhutvā bhikkhāmi,
Không hưởng, ta khất thực,
mā maṃ kālo upaccagāti..
Không uổng thời gian ta.
Bản hiệu đính
Thời gian (của thọ mạng)
Là ẩn số khó lường
Không hưởng thụ, ta tu
thời gian nào uổng phí
Atha kho sā devatā pathaviyaṃ [paṭhaviyaṃ (sī. syā. kaṃ.
pī.)] patiṭṭhahitvā āyasmantaṃ samiddhiṃ etadavoca :
4) Rồi vị Thiên ấy đứng xuống đất và thưa với Tôn giả
Samiddhi:
''daharo tvaṃ bhikkhu, pabbajito susu kāḷakeso, bhadrena
yobbanena samannāgato, paṭhamena vayasā, anikkīḷitāvī
kāmesu. Bhuñja, bhikkhu, mānusake kāme mā sandiṭṭhikaṃ hitvā
kālikaṃ anudhāvīti. ''Na khvāhaṃ, āvuso, sandiṭṭhikaṃ hitvā
kālikaṃ anudhāvāmi.
-- Này Tỷ-kheo, Ông còn trẻ tuổi mà đã xuất gia, niên thiếu,
tóc còn đen nhánh trong tuổi thanh xuân. Trong thời trẻ thơ
của tuổi đời, Ông không thọ hưởng các ái dục. Này Tỷ-kheo,
hãy thọ hưởng các ái dục của người đời. Chớ có bỏ hiện tại
mà chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
Kālikañca khvāhaṃ, āvuso, hitvā sandiṭṭhikaṃ anudhāvāmi.
Kālikā hi, āvuso, kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā
ādīnavo ettha bhiyyo. Sandiṭṭhiko ayaṃ dhammo akāliko
ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti
5) -- Này Hiền giả, ta không bỏ hiện tại và chạy theo những
gì bị thời gian chi phối. Và này Hiền giả, chính ta bỏ những
gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại. Này Hiền
giả, Thế Tôn đã nói, các dục bị thời gian chi phối, nhiều
khổ đau, nhiều phiền não (Upāyāsā); nguy hiểm ở đấy càng
nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời
gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ
người trí mới tự mình giác hiểu.
''Kathañca, bhikkhu, kālikā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā
bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo? kathaṃ sandiṭṭhiko ayaṃ
dhammo akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo
viññūhīti?
6) -- Và này Tỷ-kheo, như thế nào mà Thế Tôn đã nói các dục
bị thời gian chi phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, nguy
hiểm ở đấy càng nhiều hơn? Như thế nào thuộc về hiện tại là
pháp này, không bị thời gian chi phối, đến để mà thấy, có
khả năng hướng thượng, chỉ người trí mới tự mình giác hiểu?
''ahaṃ kho, āvuso, navo acirapabbajito adhunāgato imaṃ
dhammavinayaṃ. Na tāhaṃ [na khvāhaṃ (sī. pī.)] sakkomi
vitthārena ācikkhituṃ. Ayaṃ so Bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
rājagahe viharati tapodārāme.
Taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ puccha.
7) -- Này Hiền giả, tôi là người mới xuất gia, mới đến đây
không bao lâu. Tôi không thể giải thích rộng rãi cho Ông
pháp và luật này. Nhưng Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác nay ở Rājagaha (Vương Xá) tại tịnh xá Tapoda (Suối nước
nóng). Hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn trả
lời cho Ông như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
Yathā te Bhagavā byākaroti tathā naṃ dhāreyyāsīti. ''Na kho,
bhikkhu, sukaro so Bhagavā amhehi upasaṅkamituṃ
, aññāhi mahesakkhāhi devatāhi parivuto. Sace kho tvaṃ,
bhikkhu, taṃ bhagavantaṃ upasaṅkamitvā etamatthaṃ
puccheyyāsi, mayampi āgaccheyyāma dhammassavanāyāti.
8) -- Này Tỷ-kheo, không dễ gì cho chúng tôi được đến gặp
bậc Thế Tôn ấy, một bậc được chư Thiên khác, có đại uy lực
đoanh vây. Này Tỷ-Kheo, nếu Ngài đi đến bậc Thế Tôn ấy và
hỏi ý nghĩa này, chúng tôi có thể đến để nghe pháp.
''Evamāvusoti kho āyasmā samiddhi tassā devatāya paṭissutvā
yena Bhagavā tenupasaṅkami upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ
nisinno kho āyasmā
samiddhi bhagavantaṃ etadavoca :
9) -- Thưa vâng, Hiền giả.
Tôn giả Samiddhi vâng đáp vị Thiên ấy, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
(Đoạn tiếp theo là lời thuật của Tôn giả Samiddhi về tất cả
câu chuyện giữa tiên nữ và Tôn giả như trên. Để bài phần đọc
chánh kinh không mất thì giờ nên lược bớt không lập lại)
Sace, bhante, tassā devatāya saccaṃ vacanaṃ, idheva sā
devatā avidūreti.
-- Bạch Thế Tôn, nếu vị Thiên ấy nói sự thật, thời vị ấy ở
đây, không xa bao nhiêu.
Evaṃ vutte, sā devatā āyasmantaṃ samiddhiṃ etadavoca :
17) Khi được nói vậy, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Samiddhi
như sau:
''puccha, bhikkhu, puccha, bhikkhu, yamahaṃ anuppattāti.
-- Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Hãy hỏi đi, Tỷ-kheo! Tôi đã đến rồi.
Atha kho Bhagavā taṃ devataṃ gāthāhi ajjhabhāsi :
18) Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ với vị Thiên ấy:
''Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā.
Akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno..
''Akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati.
Tañhi tassa na hotīti, yena naṃ vajjā na tassa atthi.
Sace vijānāsi vadehi yakkhīti
Chúng sanh được hiểu biết,
Những điều được nói lên,
Và chấp trước thái độ,
Trên những điều được nói.
Nếu họ không liễu tri
Những điều được nói lên,
Họ đi đến trói buộc.
Do thần chết chi phối,
Nếu họ liễu tri được
Những điều được nói lên,
Họ không có tưởng tri,
Những điều được nói ra.
Ðối với vị như vậy,
Lỗi lầm nhất định không.
Nếu các Ông có biết,
Hãy nói lên Dạ-xoa.
Bản hiệu đính
Chúng sanh (đối năm uẩn)
Nhận thức điều được nói
Chấp trước điều được nói
Không liễu tri thực tướng
Bị tử thần cột trói
Ai thật sự liễu ngộ
Chỉ có điều được nói
Chứ không người được nói
Với vị đó không có
Cái ngã được nói tới
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
''Na khvāhaṃ, bhante, imassa bhagavatā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ ājānāmi. Sādhu me, bhante,
Bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṃ imassa bhagavatā saṅkhittena
bhāsitassa vitthārena atthaṃ jāneyyanti.
19) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
(Thế Tôn):
20)
''Samo
visesī uda vā
nihīno,
Yo maññatī so vivadetha tena.
Samo visesīti na tassa hoti.
Sace vijānāsi vadehi yakkhāti..
Bằng, thắng hay thua Ta,
Nghĩ vậy đấu tranh khởi;
Cả ba không dao động,
Bằng, thắng không khởi lên.
Nếu như Ông có biết,
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
Bản hiệu đính
Hơn, bằng, hoặc thua ta
Nghĩ vậy khiến tranh chấp
Không động bởi so sánh
Không chấp bằng hoặc hơn
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
''Imassāpi
khvāhaṃ, bhante,
bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa na vitthārena atthaṃ
ājānāmi. Sādhu me, bhante, Bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṃ
imassa bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ
jāneyyanti.
21) -- Bạch Thế Tôn, con không có hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt. Lành thay,
nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu một cách rộng
rãi những điều Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt.
22) (Thế Tôn):
''Pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā, acchecchi taṇhaṃ idha
nāmarūpe.
Taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ, pariyesamānā nājjhagamuṃ.
Devā manussā idha vā huraṃ vā, saggesu vā sabbanivesanesu.
Sace vijānāsi vadehi yakkhāti..
Hãy từ bỏ tính toán,
Không chạy theo hư tưởng,
Từ bỏ mọi tham ái,
Ðối danh sắc ở đời,
Vị ấy đoạn triền phược,
Không lo âu, không ái.
Chư Thiên và loài Người,
Ðời này hay đời sau,
Ở cảnh giới chư Thiên,
Hay tại mọi trú xứ,
Tìm cầu nhưng không gặp,
Vết tích của vị ấy.
Nếu Ông biết người ấy
Hãy nói lên, Dạ-xoa.
Bản hiệu đính
Đừng suy tính hơn thua
Chớ chạy theo mạn chấp
Không tham đắm danh sắc
Sống đoạn tận tham ưu
Cắt đứt mọi trói trăn
Trời, người không thể tìm
Vết tích bậc như vậy
Đời nầy hoặc đời sau
Thiên giới hay cõi nào
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
''Imassa
khvāhaṃ, bhante,
bhagavatā saṅkhittena bhāsitassa evaṃ vitthārena atthaṃ
ājānāmi :
23) -- Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt của Thế Tôn, con hiểu ý
nghĩa rộng rãi như sau:
''Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā,
Kāyena vā kiñcana sabbaloke.
Kāme pahāya satimā sampajāno,
Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitanti..
Khắp thế giới chớ làm,
Ðiều ác thân, miệng, ý,
Từ bỏ mọi ái dục,
Chánh niệm, tâm tỉnh giác,
Không khổ hạnh ép xác,
Vô bổ, không lợi ích.
Không làm các điều ác
Bằng thân, khẩu, hay ý
Dù bất cứ nơi nào
Với chánh niệm, tỉnh giác
Không lợi dưỡng dục lạc
Hoặc khổ hạnh hành xác
Bhikkhati:
hạnh khất thự; lối tu hành của khất sĩ không mưu sinh bằng
nghề nghiệp như người đời. Từ chữ nầy có chữ bhikkhu (tỳ
khưu). Trong kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật dùng chữ bhikkhu chỉ
chung cho tất cả người tu hành. Trong ngữ cảnh của bài kinh
nầy nên hiểu bhikkhati là tu hành thay vì đi khất thực
Bhutvā:
từ động từ bhuñjati) sau khi ăn, trong ngữ cảnh bài kinh nầy
có nghĩa là hưởng thụ dục lạc.
Kāla:
thời gian, (kiếp người)
Upaccagā:
để trôi qua, (phí phạm)
Akkheyya:
biểu đạt, nói lên, minh hoạ
Akkheyyasaññina:
nhận thức điều được nói, tưởng tri sự biểu đạt
patiṭṭhita:
thiết lập (ở đây chỉ cho sự chấp thủ dựa trên cái được nói)
apariññāya:
không liễu tri
yogamāyanti:
bị kềm kẹp bởi gông cùm (ách)
maccuno:
tử thần
pariññāya:
liễu ngộ, thấu triệt
akkhātar:
người làm
maññati:
tưởng tượng, suy diễn
Sama:
ngang bằng
visesī :
vượt trội
nihīna:
thua kém
vivadetha:
tranh luận, cãi vã
yakkha:
dạ xoa (phiên âm), quỷ thần, tiếng gọi những phi nhơn có uy
lực (thí dụ Thiên chủ Đế Thích cũng có thể gọi là dạ xoa)
(bài kinh còn nhiều từ vựng cần chú thích nhưng nếu ghi đầy
đủ sẽ quá dài. Rất nhiều từ cần hiểu theo ngữ cảnh và trọn
câu. Người nghiên cứu cần rất cẩn thận)
“abhutvā bhikkhasi bhikkhu, na hi bhutvāna bhikkhasi.
Không hưởng thụ, mà tu Câu nầy hàm ý vị tiên nữ khuyên Tôn giả Samiddhi hãy trở về đời sống hưởng thụ dục lạc còn chuyện tu hành để sau như vậy sẽ không uổng phí kiếp người.
“kālaṃ vohaṃ na jānāmi, channo kālo na dissati.
Thời gian (của thọ mạng) Tôn giả Samiddhi trả lời là không biết được sống chết khi nào nên quyết tu chứ không hưởng thụ dục lạc. Làm như vậy không thể gọi là uổng phí thời gian.
''Akkheyyasaññino sattā, akkheyyasmiṃ patiṭṭhitā.
Akkheyyaṃ apariññāya, yogamāyanti maccuno..
''Akkheyyañca pariññāya, akkhātāraṃ na maññati.
Tañhi tassa na hotīti, yena naṃ vajjā na tassa atthi.
Sace vijānāsi vadehi yakkhīti
Chúng sanh (đối năm uẩn)
Nhận thức điều được nói
Chấp trước điều được nói
Không liễu tri thực tướng
Bị tử thần cột trói
Ai thật sự liễu ngộ
Chỉ có điều được nói
Chứ không người được nói
Với vị đó không có
Cái ngã được nói tới
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
Đức Phật trong kệ ngôn nầy dạy rằng đối với những gì được
biết tới trong đời sống tức năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành,
thức thì chúng sanh từ đó nhận thức, từ đó chấp thủ là tôi,
ta vì không nhận rõ thực tướng vô thường biến dịch. Các bậc
thật sự liễu ngộ thì chỉ thấy “điều được nói chứ không có ai
nói”, “chỉ có hành động chứ không có người hành động”
Yo maññatī so vivadetha tena.
Samo visesīti na tassa hoti.
Sace vijānāsi vadehi yakkhāti..
Hơn, bằng, hoặc thua ta
Nghĩ vậy khiến tranh chấp
Không động bởi so sánh
Không chấp bằng hoặc hơn
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
Do thỉnh cầu Đức Phật dạy thêm: chính do mạn chấp hơn ta,
bằng ta, thua ta tạo nên những tranh chấp, va chạm trong
đời. Không có so sánh nhân ngã bỉ thử thì không giao động.
''Pahāsi saṅkhaṃ na vimānamajjhagā, acchecchi taṇhaṃ idha
nāmarūpe.
Taṃ chinnaganthaṃ anighaṃ nirāsaṃ, pariyesamānā nājjhagamuṃ.
Devā manussā idha vā huraṃ vā, saggesu vā sabbanivesanesu.
Sace vijānāsi vadehi yakkhāti..
Đừng suy tính hơn thua
Chớ chạy theo mạn chấp
Không tham đắm danh sắc
Sống đoạn tận tham ưu
Cắt đứt mọi trói trăn
Trời, người không thể tìm
Vết tích bậc như vậy
Đời nầy hoặc đời sau
Thiên giới hay cõi nào
Nếu ngươi lãnh hội được
Hãy nói lên, Dạ xoa!
Bậc Đại Giác cũng dạy thêm về đạo giải thoát. Không toan
tính hơn thua; không tham đắm cả hai phương diện danh và
sắc; sống đoạn tận tham ưu với đoạn tận tất cả trói buộc. Đó
là hình ảnh một bậc hoàn toàn giải thoát đến đi giữa đời nầy
không để lại dấu vết.
''Pāpaṃ na kayirā vacasā manasā,
Kāyena vā kiñcana sabbaloke.
Kāme pahāya satimā sampajāno,
Dukkhaṃ na sevetha anatthasaṃhitanti..
Không làm các điều ác
Bằng thân, khẩu, hay ý
Dù bất cứ nơi nào
Với chánh niệm, tỉnh giác
Không lợi dưỡng dục lạc
Hoặc khổ hạnh hành xác
Tiên nữ sau khi nghe pháp đã lãnh hội chứng đắc sơ quả. Do
lời Phật dạy đã nói lên sự hiểu biết chánh pháp của mình: đó
là con đường chánh niệm tỉnh giác không làm bất cứ ác quấy
nào bằng thân, ngữ, ý. Đó cũng là “trung đạo” Đức Phật đã
dạy vốn không nằm trong hai cực đoan lợi dưỡng
và khổ hạnh.
-ooOoo-
|