''Anto
jaṭā
bahi jaṭā,
Nội triền và ngoại triền,
jaṭāya jaṭitā pajā.
Chúng sanh bị triền phược,
Taṃ taṃ gotama pucchāmi,
Con hỏi Gotama,
ko imaṃ vijaṭaye jaṭanti..
Ai thoát khỏi triền này?
Bản hiệu
đính:
Rối trong và
rối ngoài
Bị rối trong
cái rối
Con hỏi Gotama
Ai gỡ được rối
nầy
(Thế Tôn):
''Sīle
patiṭṭhāya
naro sapañño, cittaṃ paññañca bhāvayaṃ.
Người trú giới
có trí,
Tu tập tâm và tuệ,
Ātāpī nipako bhikkhu, so imaṃ
vijaṭaye jaṭaṃ..
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
''Yesaṃ rāgo ca doso ca, avijjā ca
virājitā.
Với ai, đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Khīṇāsavā arahanto, tesaṃ vijaṭitā
jaṭā..
Bậc Lậu tận, Ứng cúng,
Vị ấy thoát triền phược.
''Yattha nāmañca rūpañca, asesaṃ
uparujjhati.
Chỗ nào danh và sắc,
Ðược đoạn tận, vô dư,
Paṭighaṃ rūpasaññā ca, etthesā
vijaṭe jaṭāti..
Ðoạn chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn
Bản hiệu đính:
Người trí vững
trú giới
Tu tập tâm và
tuệ
Với nhiệt tâm,
thận trọng
Tỳ kheo thoát
mê đồ
Ngưòi loại bỏ
tham, sân
Vô minh cũng
chẳng còn
Bậc ứng cúng
lậu tận
Vị ấy thoát mê
đồ
Chỗ nào danh và
sắc
Tịch nhiên
không dư sót
Không ngại
tưởng, sắc tưởng
Mọi rối rắm
không còn

jaṭā:
gút mắc, triền phược, rối rắm
sīle patiṭṭhāya:
an lập trên giới
uparujjhati:
ngừng nghỉ, tịch lặng
paṭighaṃ:
va chạm, ngại (tưởng)
rūpasaññā:
sắc tưởng

Chữ jaṭā chỉ cho sự rối ren
như chỉ rối. Ở đây trong cách dịch thoát cũng hiểu như mê
đồ. Càng tháo gỡ càng rối thêm.
Theo sớ giải
thì Đức Phật trả lời vị thiên với ba câu kệ.
Kệ ngôn thứ nhất nói về sự
vượt thoát của bậc hữu học với sự tu tập định và tuệ sau khi
đã khéo an trú trong giới.
Kệ ngôn thứ hai nói về sự
vượt thoát của bậc thánh vô học với sự đoạn tận tham, sân,
vô minh.
Kệ ngôn thứ ba nói về sự
vượt thoát hữu vi pháp với chấm dứt lệ thuộc vào cả hai hiện
tượng giới là danh và sắc. Paṭigha theo Sớ giải là cách nói
ngắn của paṭighasaññā -ngại tưởng - chỉ cho sự lệ thuộc của
tâm đối với năm cảnh dục (dục giới) trong lúc rūpasaññā -
sắc tưởng - chỉ cho sự lệ thuộc của tâm đối với thiền chứng
sắc và vô sắc.