|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, 26 tháng 05, 2021
Chương trình đặc biệt
3 NGÀY ĐÓN MỪNG MÙA LỄ VESAK PL 2565
Thứ Tư 26.5.2021
-
Lời mở đầu
- Đạo từ của TT Tuệ Siêu - Nghi thức Đại lễ Tam Hợp - Ghi nhận về Đức Phật lịch sử - Hồi hướng – hoàn mãn **************** Danh tánh của Đức Phật Gotama
Khi hoàng tử được năm ngày, Đức Vua Tịnh Phạn
đặt tên là Siddhattha (Sĩ Đạt Ta) có nghĩa là
người được toại nguyện. Gotama (Cồ Đàm) là họ
Ngài. Theo phong tục thời bấy giờ, vua cho thỉnh
nhiều vị đạo sĩ Bà La Môn học rộng tài cao vào
triều nội để dự lễ đặt tên cho hoàng tử. Trong
các đạo sĩ, có tám vị đặc biệt lỗi lạc. Sau khi
quan sát đặc tướng của hoàng tử, bảy vị đưa lên
hai ngón tay và giải thích rằng có hai lẽ. Một,
là hoàng tử sẽ trở nên vị hoàng đế vĩ đại nhất
thế gian. Hai, là Ngài sẽ đắc Quả Phật. Nhưng vị
đạo sĩ trẻ tuổi và thông minh nhất trong tám vị,
tên Koṇḍañña (Kiều Trần Như), chỉ đưa lên một
ngón quả quyết rằng ngày kia hoàng tử sẽ hoàn
toàn thoát tục và đắc Đạo Quả Phật.
Đức Phật và Phật Pháp (The Buddha and His
Teachings), Hòa thượng Narada, 1980, Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998. Những niên đại quan trọng
Lumbini được các nhà khảo cổ khai quật năm 1896.
Di chỉ quan trọng nhất được tìm thấy nơi ấy là
một thạch trụ cao 6m5 do hoàng đế Asoka (A-dục)
dựng năm 245 trước CN với lời ghi:
“Hai mươi lăm năm sau khi lên ngôi, quốc vương
Devānampiya Piyadasi (Thiên Ái Thiện Kiến, tức
A-dục) ngự đến đây chiêm bái, vì đức Phật
Thích-ca Mâu Ni, bậc Hiền Nhân của bộ tộc
Thích-Ca, đã đản sinh tại đây. Nhà vua ban lệnh
khắc một tượng bằng đá và dựng một thạch trụ.
Ngài miễn thuế đất ở làng Lumbini và giảm thuế
hoa lợi từ
1/4
theo
lệ thường xuống
1/8
”.
Ða số sử gia Âu châu nghiên cứu Ấn Ðộ cho rằng
năm 563 trước CN là năm sinh của đức Phật và
cũng là niên đại sớm nhất được xác nhận. Niên
đại ấy được tính toán cách nào và khả năng sai
lạc lớn đến mức nào? a) Vì sử sách cổ Ấn Ðộ chỉ ghi các khoảng cách giữa các sự kiện mà không ghi niên đại của các sự kiện ấy như các sử sách về sau, cho nên muốn xác định niên đại trong sử Ấn Ðộ cần phải thỉnh cầu đến các sử gia Hy lạp. Các quan hệ Ấn - Hy phát triển là do kết quả chiến dịch Ấn Ðộ của Ðại Ðế Alexander (327 trước CN). Vào khoảng năm 303 trước CN, Hoàng đế Ấn Ðộ Candragupta Maurya (hay Candagutta Moriya, triều Khổng Tước) đạt được một thỏa hiệp về lãnh thổ và mở màn quan hệ ngoại giao với vị cựu đại tướng của vua Alexander là Seleukos Nikator hiện thời cai trị thành Babylonia. Qua các báo cáo của sứ thần Hy lạp là Megasthenes được bổ nhiệm đến thủ đô Pātaliputta (Patna ngày nay), vua Candragupta dần dần được các sử gia Hy Lạp biết rõ qua danh hiệu Sandrokottos trong tiếng Hy lạp, và nhờ các sử gia này, chúng ta có thể tính niên đại ngài lên ngôi vào năm 321 trước CN
-
Niên đại này còn cho chúng
ta xác định các niên đại của chuỗi sự kiện liên
tục được liệt kê trong sách sử ký tiếng Singhala
là Dīpavamsa (Ðảo Sử) và Mahāvamsa (Ðại Sử)
khoảng thế kỷ thứ tư đến thứ sáu CN. Theo các
sách này, (Dv5.100; Mhv 5.18), vua Candragupta
trị vì hai mươi bốn năm (đến 297), hoàng nam kế
vị ngài là Bindusàra (Tần-đầu-sa-la) trị vì hai
mươi tám năm (đến 269), tiếp đó là khoảng bốn
năm trước khi Asoka, con vua Bindusāra, lên ngôi
bằng cách tiêu diệt tất cả hoàng gia huynh đệ và
tự làm lễ quán đảnh phong vương (Dv 6.21; Mhv.
5.22). Như vậy biến cố này có lẽ đã xảy ra vào
năm 265 trước CN.
Ta có thể nhìn lui về ngày đức Phật đản sanh dựa
vào lời xác nhận trong cả hai sách sử ký này (Dv
6.1; Mhv 5.21) rằng vua Asoka lên ngôi hai trăm
mười tám (218) năm sau khi đức Phật diệt độ (Bát
Niết-bàn). Sự kiện này do vậy được ghi vào năm
483 trước CN. Và vì Bậc Ðạo Sư sống đến tám mươi
tuổi, năm đản sinh của ngài nhằm vào năm 563
trước CN.
b) Một nguồn thông tin khác do các sắc dụ của
hoàng đế Asoka cung cấp, các sắc dụ này được
hoàng đế Devànampiya Piyadasi (Thiên Ái Thiện
Kiến, tức A-dục) truyền khắc lên đá và đặc biệt
truyền dựng thạch trụ khắp đế quốc vĩ đại của
ngài. Sắc dụ trên thạch trụ số XIII, ghi ngày
chinh phục đẫm máu nước Kalinga (Orissa) của vua
Asoka tám năm sau khi ngài đăng quang, và trụ
này có lẽ được xây dựng mười hai năm sau biến cố
ấy, nêu danh tánh năm vị vua không phải người Ấn
Ðộ mà hoàng đế Asoka đã tiếp kiến, đó là:
Antiochus II của nước Syria, Ptolemy II của Ai
Cập, Antigonus của Macedonia, Magas của Cyrene
và Alexander của Epirus. Niên đại của các vua
này đều được biết rõ, và năm gần nhất các vua
này vẫn còn sống là 258, như vậy đó cũng có thể
là năm gần nhất của sắc dụ này. Tính lùi lại
mười hai năm sau ngày vua Asoka lên ngôi, cọng
thêm 218 năm được nêu trong các sử ký, ta đạt
con số 488 trước CN dành cho năm đức Phật tịch
diệt và năm 568 dành cho năm đản sanh của đức
Phật.
c) Các sử gia Trung Hoa cũng hỗ trợ một phần qua
sách “Ðiểm Sử Ký” của Quảng Châu, sách này trình
bày rõ mỗi điểm tượng trưng một năm sau thời đức
Phật diệt độ. Xuống đến năm 489 CN, sách này nêu
ra 975 điểm, tức là đặt thời đức Phật diệt độ
vào năm 486, và đản sanh vào năm 566 trước CN.
Dầu tính cách chính xác trong sử sách của người
Trung Hoa đáng tin cậy đến đâu chăng nữa, thì
cũng không phải là không có sai lầm, nhất là vì
đạo Phật đến Trung Quốc khá trễ và các sử gia
Trung Hoa đã không khởi công viết sử ký ngay khi
bậc Ðạo Sư Ấn Ðộ tịch diệt.
d) Ta cũng có thể xem xét truyền thống Kỳ-na
giáo. Vị tổ sáng lập đạo này là Jina (Thắng giả)
hay Mahàvira (Ðại Hùng), người đồng thời với đức
Phật, sống đến bảy mươi hai tuổi và được Kinh
Ðiển Phật giáo nhắc đến qua danh hiệu Nigantha
Nātaputta (Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử).
e) Biên niên sử thường được chấp nhận hiện nay ở
khắp Á châu lại càng ít được tín nhiệm hơn nữa,
theo đó đức Phật diệt độ năm 544 và đản sinh năm
624 trước CN. Nhưng Phật lịch (B.E) chỉ mới xuất
hiện vào thế kỷ 11 CN. Do đó về sau hoặc là niên
đại ghi thời bậc Ðạo Sư tịch diệt đã bị nhầm lẫn
với niên đại đản sanh, hoặc có lẽ các Tăng sĩ đã
dùng chu kỳ 60 năm trong cách tính toán, nên đã
tính lầm cả một chu kỳ. Cách này đặt các niên
đại của đức Phật vào 564 - 484 trước CN. Song
giả thiết về sự nhầm lẫn như thế dĩ nhiên không
có bằng cớ.
Về phương diện khác, các niên đại suy diễn từ sử
ký Trung Hoa hay Singhala, và các sắc dụ Asoka
đều có căn bản vững chắc và chỉ khác nhau ở mức
tối thiểu, vì thế theo chúng, năm đản sinh đức
Phật chỉ xê xích từ 568 đến 544 trước CN. Niên
đại 563 được sử ký Tích Lan yểm trợ, cũng có giá
trị không chỉ vì nó đứng giữa mà còn được hai
cách tính toán khá phức tạp hơn nữa yểm trợ, dựa
trên các bản liệt kê danh sách quốc vương Nam Ấn
Ðộ và Singhala, cùng niên đại nước Tích Lan được
cải hóa theo đạo Phật, mà còn dựa vào các bảng
tham khảo lẻ tẻ về một hệ thống niên đại tối cổ
đã bị thất lạc chỉ còn lưu lại vài phần, hệ
thống này căn cứ vào năm 483 là năm đức Phật
diệt độ.
Như vậy ta được biện minh về cách đặt niên đại
đức Phật đản sanh vào năm 563 theo sử ký, tuy
thế, lại chấp nhận trên căn bản các chứng cứ
lịch sử khác, có thể nhầm lẫn từ cọng năm đến
trừ chín năm. Xác suất về một niên đại sớm hơn
lại cao hơn một chút vì có được cả hai phương
pháp (b) và (c) hỗ trợ, trong khi một niên đại
muộn hơn chỉ được một phương pháp (d) hỗ trợ mà
thôi.
Phong cảnh này vào thời đức Phật là vùng rừng
rậm, trải dài từ cao nguyên Tarai trên triền dãy
Tuyết Sơn khoảng 300km xuống dần về phía nam
thành một bình nguyên mang đủ hình dáng ruộng
đồng và lác đác vài ngôi làng ẩn nấp dưới những
đám cây mọc rải rác trong ánh mặt trời gay gắt,
một vài chỗ bị gián đoạn bởi các sông ngòi chảy
chầm chậm đưa những chiếc thuyền gỗ buồm xám
dong ruỗi nhàn nhã. Các khu thành thị chính ở
đây là Allahabad, Varanasi (Benares) và Patna.
Ðó là cách sinh hoạt thông thường giữa tháng năm
và tháng sáu, lúc khí hậu lên cao 40oC,
nhưng phong cảnh và các thị trấn lại hoàn toàn
đổi khác khi gió mùa chợt bùng ra giữa tháng
sáu, trước đó đã ùa đến từ vùng đông nam theo
những khối mây khổng lồ đùn lên dày đặc. Rồi
những trận mưa ào ào như thác dữ dội đổ xuống
đất hằng giờ khiến mặt đất trở thành một cánh
đầm lầy, những dòng sông trước đây hiền hòa nay
tràn bờ cuồn cuộn chảy xiết.
Chẳng bao lâu sức nóng trở nên oi bức lạ thường,
da con người phát nóng khô nứt nẻ và ngứa ngáy
rất khó chịu. Nhưng dần dần nhiệt độ hạ xuống
làm không khí từ tháng mười đến tháng ba (khoảng
15oC) thật ôn hòa dễ chịu. Tháng
giêng trời có thể trở rất lạnh khoảng 30oC
ban đêm và những thương nhân tạp hóa có dịp đem
mền bông ra bán. Dần dần cột thủy ngân lại lên
cao và từ tháng tư một thời kỳ nóng bức lại bắt
đầu. Ánh sáng chói lọi của đám cây rừng bừng ra
từ những chùm hoa đỏ như khối hồng ngọc rực rỡ.
Trời càng nóng dần, các loài chim cu gáy lại
càng cất tiếng hót lanh lảnh, do đó làm cho làn
không khí oi bức thêm khiến con người mỏi mệt
không sao ngủ được.
Môi trường và khí hậu chi phối cách sống của dân
chúng như vậy, hoàn cảnh xã hội chính trị cũng
không kém. Trong khi lịch sử Ấn Ðộ trước thời
đức Phật bị một màn sương mù của dĩ vãng xa xưa
bao phủ, thì vào thế kỷ thứ sáu, bức màn ấy được
vén lên để lộ cho ta nhận ra bối cảnh chính trị
trong vùng tiểu lục địa này. Các sự kiện quan
trọng và các nhân vật trở nên rõ nét với những
khả năng, đặc tính, ước vọng chẳng khác gì các
nhân vật thời đại chúng ta xuất hiện. Và chính
Kinh Ðiển Phật giáo đã truyền đạt tất cả những
điều ấy cho chúng ta.
Tuy nhiên việc đó không phải nhằm mục đích ghi
chép lịch sử, vì người Ấn Ðộ thời ấy không xem
các biến cố chính trị là chuyện xứng đáng cho ta
gìn giữ trong tâm trí. Ðối tượng của các nhà
biên niên sử đạo Phật là truyền bá Chánh Pháp
(Dhamma) do đức Thế Tôn tuyên thuyết trong các
bài kinh của Ngài và công bố đây là con đường
độc nhất dành cho những người đi tìm sự cứu độ
trong tương lai.
Sau khi được truyền khẩu qua hàng thế kỷ, Kinh
Ðiển ấy được ghi chép không bao lâu trước Công
nguyên. Từ những lời phát biểu về nơi chốn, cơ
hội, hoàn cảnh của các bài kinh Phật, và từ các
Bộ Luận giải chúng, thời đại của đức Phật trở
nên thật sống động đối với chúng ta.
Nếu Vệ-đà, các tác phẩm văn học tối cổ của Ấn Ðộ
phản ảnh nếp sống thôn quê, thì trong Kinh Ðiển
Phật giáo ta thấy cả bức tranh văn hóa thành
thị. Ta cũng nghe nói đến làng mạc nông dân,
nhưng đặc biệt là các thành phố tạo nên bối cảnh
cho đức Phật hoằng Pháp, chúng là các tụ điểm
của đời sống chính trị và thương mại phồn vinh.
Nhân vật trung tâm của xã hội ấy là một vua cai
trị địa phương (rāja) mà các quyết định của vị
này còn tuỳ thuộc vào hội đồng và thường cũng
cần phải tuỳ theo lòng trung thành đối với vị
đại vương (mahārāja).
Phong cảnh này vào thời đức Phật là vùng rừng
rậm, trải dài từ cao nguyên Tarai trên triền dãy
Tuyết Sơn khoảng 300km xuống dần về phía nam
thành một bình nguyên mang đủ hình dáng ruộng
đồng và lác đác vài ngôi làng ẩn nấp dưới những
đám cây mọc rải rác trong ánh mặt trời gay gắt,
một vài chỗ bị gián đoạn bởi các sông ngòi chảy
chầm chậm đưa những chiếc thuyền gỗ buồm xám
dong ruỗi nhàn nhã. Các khu thành thị chính ở
đây là Allahabad, Varanasi (Benares) và Patna.
Ðó là cách sinh hoạt thông thường giữa tháng năm
và tháng sáu, lúc khí hậu lên cao 40oC,
nhưng phong cảnh và các thị trấn lại hoàn toàn
đổi khác khi gió mùa chợt bùng ra giữa tháng
sáu, trước đó đã ùa đến từ vùng đông nam theo
những khối mây khổng lồ đùn lên dày đặc. Rồi
những trận mưa ào ào như thác dữ dội đổ xuống
đất hằng giờ khiến mặt đất trở thành một cánh
đầm lầy, những dòng sông trước đây hiền hòa nay
tràn bờ cuồn cuộn chảy xiết.
Môi trường và khí hậu chi phối cách sống của dân
chúng như vậy, hoàn cảnh xã hội chính trị cũng
không kém. Trong khi lịch sử Ấn Ðộ trước thời
đức Phật bị một màn sương mù của dĩ vãng xa xưa
bao phủ, thì vào thế kỷ thứ sáu, bức màn ấy được
vén lên để lộ cho ta nhận ra bối cảnh chính trị
trong vùng tiểu lục địa này. Các sự kiện quan
trọng và các nhân vật trở nên rõ nét với những
khả năng, đặc tính, ước vọng chẳng khác gì các
nhân vật thời đại chúng ta xuất hiện. Và chính
Kinh Ðiển Phật giáo đã truyền đạt tất cả những
điều ấy cho chúng ta.
Tuy nhiên việc đó không phải nhằm mục đích ghi
chép lịch sử, vì người Ấn Ðộ thời ấy không xem
các biến cố chính trị là chuyện xứng đáng cho ta
gìn giữ trong tâm trí. Ðối tượng của các nhà
biên niên sử đạo Phật là truyền bá Chánh Pháp
(Dhamma) do đức Thế Tôn tuyên thuyết trong các
bài kinh của Ngài và công bố đây là con đường
độc nhất dành cho những người đi tìm sự cứu độ
trong tương lai.
Sau khi được truyền khẩu qua hàng thế kỷ, Kinh
Ðiển ấy được ghi chép không bao lâu trước Công
nguyên. Từ những lời phát biểu về nơi chốn, cơ
hội, hoàn cảnh của các bài kinh Phật, và từ các
Bộ Luận giải chúng, thời đại của đức Phật trở
nên thật sống động đối với chúng ta.
Nếu Vệ-đà, các tác phẩm văn học tối cổ của Ấn Ðộ
phản ảnh nếp sống thôn quê, thì trong Kinh Ðiển
Phật giáo ta thấy cả bức tranh văn hóa thành
thị. Ta cũng nghe nói đến làng mạc nông dân,
nhưng đặc biệt là các thành phố tạo nên bối cảnh
cho đức Phật hoằng Pháp, chúng là các tụ điểm
của đời sống chính trị và thương mại phồn vinh.
Nhân vật trung tâm của xã hội ấy là một vua cai
trị địa phương (rāja) mà các quyết định của vị
này còn tuỳ thuộc vào hội đồng và thường cũng
cần phải tuỳ theo lòng trung thành đối với vị
đại vương (mahārāja).
Theo Kinh Ðiển Phật giáo, toàn cảnh chính trị
của vùng đồng bằng trung tâm sông Hằng trong thế
kỷ thứ 6 trước CN do bốn vương quốc, một số nước
cộng hòa theo chế độ tập quyền và các nhóm bộ
tộc quyết định.
Phía bắc sông Hằng là vương quốc Kosala
(Kiều-tát-la) hùng cường với thủ đô Sāvatthī
(Xá-vệ) vào thời đức Phật, nước này được các Ðại
vương liên tục trị vì, đó là Mahākosala,
Pasenadi và Vidūdabha. Ngoài Sāvatthī, các thành
phố quan trọng khác của Kosala là Sāketa (hay
Ayojjha), cố đô, và Varanasi (Benares,
Ba-la-nại), thánh địa để chiêm bái. Ðại vương
Kosala, ngoài lãnh thổ trung ương, còn ngự trị
thêm hai nước cộng hòa và ba bộ tộc khác nữa.
Phía Tây nam Kosala, nằm trong góc giữa sông
Hằng và sông Yamunā (Diệm-mâu-na) là tiểu quốc
Vamsā (hay Vaccha) với thủ đô Kosambī
(Kiều-thưởng-di) và trung tâm chiêm bái Payāga
(nay là Allahabad). Quốc vương Vamsā là Udena,
con vua Parantapa.
Tiểu quốc Avanti (sát Magadha) trải dài dưới
quốc độ Vamsā và Kosala đến phía nam sông Hằng.
Quốc vương Pajjota ngự trị tại thành Ujjenī,
nhưng ở miền nam nước này lại có một thủ đô thứ
hai là Māhissati. Xứ Avanti nằm phía ngoài khu
vực được đức Phật du hành nhưng lại được đệ tử
ngài là tôn giả Mahākaccāna (Ðại-Ca-chiên-diên)
giáo hóa theo đạo Phật.
Cuối cùng là vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà)
trải dài, giáp Avanti về phía đông và sông Hằng
về phía bắc. Sự phồn thịnh của xứ này phần lớn
dựa vào các quặng sắt do việc khai thác mỏ không
xa kinh đô Rājagaha (Vương Xá), vừa phục vụ
thương mại xuất khẩu vừa sản xuất vũ khí trong
nước. Các Ðại vương Bhāti và Bimbisāra
(Tần-bà-sa-la kết hôn với chị của vua Pasenadi
nước Kosala) liên tục ngự trị tại thành Vương
Xá, còn vua Ajātasattu (A-xà-thế) dời kinh đô từ
Vương Xá đến Pālaliputta (nay là Patna). Vương
tử kế vị vua Ajātasattu là Udāyibhadda, cũng như
phụ vương mình, đã giết cha để chiếm ngai vàng
và sau đó cũng cùng chung số phận ấy dưới tay
con trai là Anuruddhaka.
Ngoài bốn quốc độ này, vùng Trung Nguyên còn có
nhiều xứ cộng hòa, tất cả đều ở về phía đông
Kosala và bắc Magadha. Các xứ này có tính cách
quý tộc tập quyền, mỗi xứ đều do một vua thống
trị (rāja) vừa chủ tọa hội đồng quốc gia vừa tự
cầm quyền nhiếp chính những lúc hội đồng không
có kỳ họp. Chỉ các thành phần giai cấp Khattiya
(Sát-đế-lỵ _ quý tộc) được bầu làm quốc vương,
nghĩa là các vương tước hay các chức vị trong
hội đồng lãnh đạo đều dành cho người ở giai cấp
này. Tuy nhiên, các giai cấp khác cũng được nghe
các buổi hội nghị vì phòng hội đồng chỉ gồm một
mái che trên các cột trụ mà thôi.
Các xứ cộng hòa được gọi tên theo nhóm quý tộc
lãnh đạo, nhóm này chỉ là một thiểu số trong
toàn dân, mà cho đến nay không lưu lại các con
số rõ ràng nào cả.
Xứ cộng hòa của bộ tộc Sakiya (hay Sakya, Sakka,
Thích-ca) thủ đô là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ)
và vùng lãnh thổ cổ sơ hiện nay bị ranh giới Ấn
Ðộ và Nepal chia cắt, thời ấy tiếp giáp quốc độ
Kosala về đông bắc và là một nước chư hầu của đế
quốc này. Ðức Phật là một người trong giới quý
tộc Thích-ca.
Cộng hòa Malla rất rộng có đến hai vua thống trị
ở Pāvā và Kusinārā. Kusinārā được mô tả như một
nơi chốn không quan trọng, nhưng chính nơi đây
bậc Ðạo Sư đã viên tịch trong Niết-bàn Tối hậu
(Parinibbāna).
Cộng hòa Licchavrī với thủ đô Vesāli (Tỳ-xá-ly)
và Cộng hòa Videha (Vi-đề-ha) với thủ đô
Mitthilā (Mi-thi-la) đã gia nhập vào liên bang
Vajji (Bạt-kỳ), có một thời lại liên kết thêm
vài bộ tộc khác nữa.
Ngoài các nước quân chủ và cộng hòa còn có các
bộ tộc. Chúng ta biết rất ít về chế độ chính trị
của họ, nhưng sự khác biệt giữa các cộng hòa và
bộ tộc hình như là ở điểm vị cai trị bộ tộc
không do dân bầu lên mà do các vị bô lão trong
bộ tộc chỉ định, và vị cai trị bộ tộc ấy cũng
như các bô lão đều không cần phải ở giới quý tộc
Sát-đế-lỵ. Các bộ tộc quan trọng là Koliyas
(Câu-ly) ở phía đông nam cộng hòa Sakiya, ranh
giới của hai nước là con sông nhỏ bé Rohinī (nay
là Rowai). Xưa có nhiều liên hệ hôn nhân giữa
hai dòng họ Sakiya và Koliya này. Thủ đô của
Koliya là Rāmagāma (hay Koliyanagara).
Xa hơn nữa lại có bộ tộc Moriyas, thủ đô là
Pipphalivana, vùng đất này tiếp giáp vùng đất
của bộ tộc Koliya, đến mãi tận phía đông. Cuối
cùng phải nói đến dòng họ Kālamas, thủ đô là
Kesaputta. Xứ sở này nằm trong góc hướng về phía
tây giữa sông Ghāgra và sông Hằng.
Ðôi khi có ý kiến khác nhau giữa các vương quốc,
cộng hòa, bộ tộc ấy phần lớn về quyền dẫn thủy
nhập điền và đồng cỏ, nhưng thái độ chung là
cùng sống hòa bình. Bất cứ ai cũng có thể tự do
vượt qua biên giới chung giữa các chính thể khác
nhau ấy. Ðây là toàn cảnh địa lý, khí hậu và
chính trị thời đức Phật Siddhattha Gotama
(Sĩ-đạt-ta Cồ-đàm) giáng sinh năm 563 trước CN.
Phân đoạn II, III, IV trích từ “Ðức Phật Lịch Sử
(The Historical Buddha)” H.W. Schumann (1982),
M. O'C. Walshe dịch sang Anh ngữ (1989), Nguyên
Tâm Trần Phương Lan dịch Việt (1997)
Thứ Năm 27.5.2021: TÔN KÍNH VÀ CÚNG DƯỜNG ĐỨC PHẬT
·
Thờ Phật
·
Cúng dường Phật
·
Niệm Phật
·
Học hạnh Phật -ooOoo- |