|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy ngày 29 tháng 05, 2021 GIÁO TRÌNH KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA - CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM. (S.i,8)
NGÀY 29/05/2021 Bài 5. Kinh Vị A-La-Hán (Arahantasuttaṃ) - Tục đế
Có hai sự thật: chân đế và
tục đế. Chân đế là bản thể của vạn pháp. Tục đế là quy định
đặt để gọi thí dụ trong Nam gọi là khoai mì, ngoài Bắc gọi
là sắn. Tên đặt để gọi. Không có giá trị tuyệt đối. Các bậc
hoàn toàn giải thoát không còn mạn chấp nên mặc dù vẫn dùng
cách nói “tôi, của tôi” nhưng trong ý nghĩa truyền đạt bình
thường giống như một người bước vào phòng họp có thể nói
“xin mở microphone của tôi” không có nghĩa là người đó nói
microphone thuộc về mình nên sau khi họp xong sẽ tháo ra
mang về. Người học Phật cần phân rõ chơn đế và tục đê.
Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ
ṭhitā kho sā devatā
bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi :
... Nhân duyên ở (Sāvatthī
), Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt
Thế Tôn:
''Yo hoti bhikkhu arahaṃ katāvī,
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Khīṇāsavo antimadehadhārī.
Ahaṃ
vadāmītipi so
vadeyya,
Mamaṃ vadantītipi so vadeyyāti..
Bản hiệu đính
Tỳ kheo a la hán
Việc nên làm đã làm
Lậu tận, thân tối hậu
Có thể chăng để bảo
“tôi nói; nói với tôi ”?
(Thế Tôn):
''Yo
hoti
bhikkhu arahaṃ katāvī,
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Khīṇāsavo antimadehadhārī.
Ahaṃ vadāmītipi so vadeyya,
Mamaṃ vadantītipi so vadeyya.
Loke
samaññaṃ kusalo viditvā,
Vohāramattena so vohareyyāti..
Bản hiệu đính
Tỳ kheo a la hán
Việc nên làm đã làm
Lậu tận, thân tối hậu
Vị ấy có thể bảo
“tôi nói; nói với tôi ”
Thiện xảo và biết rõ
Quy ước của thế tình
Đơn thuần để truyền đạt
(Vị Thiên):
''Yo hoti
bhikkhu arahaṃ katāvī,
Vị Tỷ-kheo La-hán,
Khīṇāsavo antimadehadhārī.
Mānaṃ nu kho so upagamma bhikkhu,
Ahaṃ vadāmītipi so vadeyya.
Khīṇāsavo antimadehadhārī.
Bản hiệu đính
Việc nên làm đã
làm
Lậu tận, thân
tối hậu
Phải chăng khởi
mạn chấp
Khi vị ấy thốt
lời
“tôi nói; nói
với tôi ”?
(Thế Tôn):
''Pahīnamānassa na santi ganthā,
Ai đoạn tận kiêu mạn,
Vidhūpitā mānaganthassa sabbe.
Sa
vītivatto maññataṃ sumedho,
Ahaṃ
vadāmītipi so
vadeyya..
''Mamaṃ vadantītipi so vadeyya.
Loke samaññaṃ kusalo viditvā.
Vohāramattena so vohareyyāti..
Bản hiệu đính
Không cột bởi kiêu mạn
Cắt tất cả thằng thúc
Bậc trí không mạn chấp
Không còn mọi hư tưởng
Vị ấy có thể bảo
“tôi nói; nói với tôi ”
Thiện xảo và biết rõ
Quy ước của thế tình
Đơn thuần để truyền đạt
arahaṃ:
Bậc Ứng Cúng, bậc A la hán
katāvī:
Người đã làm xong những gì
cần làm
Khīṇāsavo:
Lậu tận, không còn lậu hoặc
antimadehadhārī.:Vị mang thân sau cùng
(không còn sanh tử)
Mamaṃ:
biến cách của ahaṃ (xem
thích nghĩa đề iết thêm chi tiết)
Vadāmi:
tôi nói
vadeyya:
có thể nói (khả năng cách
của vadati)
samañña:
thi thiết, , truyền đạt
kusalo viditvā:
khéo biết rõ
Theo Sớ giải thì
vị thiên là thọ thần sống trong rừng thấy các tỳ kheo ẩn lâm
tin các vị là A la hán. Tuy vậy khi nghe đối đáp giữa các tỳ
kheo vẫn dùng những chữ tôi, của tôi.. vị thiên lấy làm thắc
mắc đến bạch hỏi Phật. Đức Phật dạy rằng những vì đã đoạn
tận mạn kiết sử không còn chấp ngã. Tuy vậy trong ngôn ngữ
truyền đạt vẫn dùng các chữ “tôi, của tôi..” là cách nói
theo thường thức. Không phải vì vậy mà các vị A la hán còn
chấp ngã.
Các chữ ahaṃ và
mamaṃ đề là biến cách của “tôi” theo chủ cách và chỉ định
các theo ngữ cản chủ từ, túc từ (chỉ định cách). Đối với chư
vị lậu tận cách nói nầy không hàm ý nhân ngã bỉ thử. Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo-
|