|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật 01 tháng 05, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 29. Tập Đế
Tập đế có nghĩa là sự thật về nguyên nhân căn cội của đau
khổ.
Dùng chữ “căn cội” có nghĩa là nguồn gốc chính yếu, sâu xa
nhất chứ không phải chỉ là nguyên nhân nhất thời trong một
giai đoạn nào đó. Thí dụ virus là nguyên nhân chính của sự
chết chứ sự khó thở chỉ là lý do trước mắt.
Nguyên nhân của đau khổ chính là taṇhā.
Taṇhā có thể dịch là khát ái. Đây là sự khao khát không bao
giờ thoả mãn. Có thể hiểu qua hai cách: bao nhiêu cũng không
đủ hoặc cứ muốn lập đi lập lại. Trạng thái nầy là căn bệnh
muôn thuở của chúng sanh không thể đoạn trừ bằng sự áp đảo
thông thường.
Nói về tập đế, đôi khi cũng dịch là khổ tập, Kinh
Chuyển Pháp Luân ghi như sau:
Idaṁ kho pana, bhikkhave, dukkhasamudayaṃ ariyasaccaṃ—yāyaṃ
taṇhā ponobbhavikā nandirāgasahagatā tatratatrābhinandinī,
seyyathidaṃ kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā.
Ðây là Thánh đế về
Khổ tập, này các Tỷ-kheo, chính là
khát ái đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu
dục lạc chỗ này chỗ kia; như dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
Này chư Hiền, như vậy gọi là Khổ tập Thánh đế.
(Trích Kinh Chuyển Pháp Luân-Dhammacakkappavattanasutta)
Tương Ưng Bộ, bản
dịch của HT Thích Minh Châu)
Khát ái đưa đến tái sanh – taṇhā ponobbhavikā – chính
là động lực chủ yếu tạo nên trầm luân sanh tử.
Không có khát ái thời không có sự tạo thành năm uẩn; nói
cách khác là không có luân hồi trong tam giới.
Câu hữu với hỷ và tham – nandirāgasahagatā – có nghĩa
là đi chung với hai trạng thái sung sướng và ham muốn.
Tức sự hưởng thụ và mong ước. Hỷ là sự tận hưởng cái khả ái,
khả ý. Tham là sự mong cầu. Thí dụ một người được tiền cảm
thấy sung sướng vì cảm giác có tiền đó là hỷ. Từ cảm giác
sung sướng ước mong có được thật nhiều tiền đó là tham. Cả
hai xuất hiện như cặp bài trùng.
Tìm cầu dục lạc chỗ này chỗ kia –
tatratatrābhinandinī –
là sự truy cầu cái ưa thích. Như một người thích mua sắm lang thang trong
chợ: không phải do nhu cầu mà do sở thích mua sắm.
Dục ái – Kāmataṇhā – là sự ham muốn đối với thị
dục. Đó là
sự khao khát đối sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc
lạc, ý tưởng yêu thích.
Hữu ái – Bhavataṇhā – là khao khát được là, được có,
được trở thành. Như khát vọng ở tương lai
hay mong trở thành một hình tượng nào mà bản thân xem là
“được”.
Phi hữu ái – Vibhavataṇhā – là sự khao khát để không
có cái nầy, không là cái kia.
Trạng thái nầy là sự đối đãi tự nhiên đối với hữu ái. Một
người mong được giàu thì tha thiết vượt qua cái nghèo. Một
người muốn có được khuôn mặt kiểu kia thì muốn không còn
kiểu nầy.
Không nên lẫn lộn ba thứ ái kể trên với ba thứ ái dục
ái, sắc ái, vô sắc ái. Sắc ái và vô sắc ái
luôn luôn đi với ái chấp với thiền chứng và sự mong mõi tái
sanh vào các cõi thiền trong lúc hữu ái và vô hữu ái không
nhất thiết như vậy.
Tất cả những gì được
đề cập trong khổ đế bao gồm cả bản chất tự nhiên và phản ứng
hay thái độ tạo nên sự khổ.
Như bản chất của năm uẩn là có những hệ luỵ mà chấp thủ năm
uẩn khiến khổ đau tăng gấp nhiều lần. Rất khó tin khi nói
rằng một trong những điều khiến chúng ta đau khổ nhiều là vì
nhận thức sai lầm.
Người tu Phật không
hiểu sự đau khổ trong tâm trạng bi quan mà lấy đau khổ để
thắp sáng tuệ giác.
Trên phương diện pháp học, giáo nghĩa về
khổ đế giúp khai thông
cái nhìn toàn diện về thế giới và cứu cánh giác ngộ giải
thoát. Trên phương diện pháp hành, quán niệm khổ đế giúp hành giả thấy được bản chất tự nhiên của sự
bất toàn đối với thân tâm và cả cuộc sống.
(Còn tiếp) Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình |