|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 02, tháng 05, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMACHƯƠNG IX. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) Bài 74. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) (tiếp theo)
B. QUÁN NGHIỆP XỨ
(Vipassanākammaṭṭhāna) Đề mục để tu tập thiền minh sát, gọi là quán nghiệp xứ. Trong kinh, Đức Phật dạy bốn niệm xứ (cattāro
satipaṭṭhānā) là: 1. Thân quán niệm xứ
(kāyānupassanāsatipaṭṭhānaṃ) 2. Thọ quán niệm xứ
(vedanānupassanāsatipaṭṭhānaṃ) 3. Tâm quán niệm xứ
(cittānupassanāsatipaṭṭhānaṃ) 4. Pháp quán niệm xứ
(dhammānupassanāsatipaṭṭhānaṃ) Bốn niệm xứ này lấy ngũ uẩn hay danh sắc làm đề tài quán niệm.
Thân quán niệm xứ là niệm sắc uẩn. Thọ quán niệm xứ là niệm
thọ uẩn. Tâm quán niệm xứ là niệm thức uẩn. Pháp quán niệm
xứ là niệm tưởng uẩn và hành uẩn; Thật ra pháp quán niệm xứ
là niệm của năm uẩn vì là quán năm triền cái, năm thủ uẩn,
mười hai xứ, bảy giác chi, bốn thánh đế. Quán niệm thân cũng có nghĩa là quán sắc, Quán niệm thọ, Quán
niệm tâm nghĩa là quán danh. Quán niệm pháp nghĩa là quán
danh sắc. Bốn niệm xứ nầy là đề mục tu quán, gọi là Quán nghiệp xứ
(vipassanākammaṭṭhāna). Tu quán tức là tu tuệ (paññā), tuệ thấy rõ thực tướng
của danh sắc vô thường, khổ não và vô ngã (tilakkhaṇa). Tu quán dựa trên nền tảng Giới (sīla), Định
(samādhi) – Tuệ (paññā). Tức là tăng thượng
giới (adhisīla), tăng thượng tâm (adhicitta)
và tăng thượng tuệ (adhipaññā). Tu quán là cửa ngõ đi vào giải thoát (vimokkhamukha)…
Giải chi tiết trong tu quán nghiệp xứ a. Danh (nāma) và sắc (rūpa) là đề mục tu quán: Danh (nāma) là pháp thực tính bao gồm thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn, và thức uẩn. Sắc (rūpā) là sắc uẩn.
Đây là danh sắc phân theo ngũ uẩn (pañcakkhandha),
nhưng đề mục tu quán chỉ giới hạn trong phạm vi ngũ thủ uẩn
(pañcupādānakkhandha). Danh sắc phân theo thập nhị xứ (dvādasāyatana). Danh
là ý xứ và pháp xứ tâm sở. Sắc là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ,
thiệt xứ, thân xứ, sắc xứ, thinh xứ, khí xứ, vị xứ, xúc xứ,
và pháp xứ sắc tế. Danh sắc theo thập nhị xứ thành đề mục tu
quán ở đây giới hạn xứ hiệp thế (lokiyāyatana). Danh sắc phân theo thập bát giới (aṭṭhārasadhātu).
Danh là nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt
thức giới, thân thức giới, ý giới, ý thức giới và pháp giới
tâm sở. Sắc là nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới,
thân giới, sắc giới, thinh giới, khí giới, vị giới, xúc giới
và pháp giới thuộc sắc tế. Danh sắc theo thập bát giới thành
đề mục tu quán ở đây chỉ lấy giới hiệp thế (lokiyadhātu). Danh sắc phân theo pháp hữu vi (saṅkhārā hay
saṅkhatadhamma). Danh là Tâm và Tâm Sở. Sắc là sắc
pháp. Danh sắc theo pháp hữu vi thành đề mục tu quán ở đây
giới hạn pháp hiệp thế (lokiyadhamma). b. Tùy quán tam tướng (tilakkhaṇānupassanā) là phương pháp tu
quán Tam tướng (tilakkhana) là ba đặc tính, ba tướng trạng
của pháp hữu vi (danh sắc hữu vi). Ba tướng là vô thường
tướng, khổ tướng và vô ngã tướng. Vô thường tướng
(aniccalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa: · Diễn tiến sanh diệt
(uppādavayavattito) · Biến đổi
(vipariṇāmato) · Tạm thời
(tāvakālikato) · Trái nghĩa thường còn
(niccapaṭikkhepato) Khổ tướng
(dukkhalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa: · Luôn bức xúc
(abhiṇhasampaṭipīlanato) · Khó chịu đựng
(dukkhamato) · Căn nguyên đau khổ
(dukkhavatthuto) · Trái nghĩa với lạc
(sukhapaṭikkhepato) Vô ngã tướng
(anattalakkhaṇa) có 4 ý nghĩa: · Trống rỗng
(suññato) · Không sở hữu chủ
(assāmikato) · Không diễn tiến theo
quyền năng (avasavattito) Tam tướng có ba ý nghĩa chính: vô thường nghĩa là hoại tiêu
(aniccaṃ khayatthena). Khổ nghĩa là kinh khiếp
(dukkhaṃ bhayatthena). Vô ngã nghĩa là không kiên thực
(anattā asāratthena). Tùy quán tam tướng là tùy quán vô thường (aniccānupassanā),
tùy quán khổ não (dukkhānupassanā), tùy quán vô ngã
(anattānupassanā). Thế nào là tùy quán vô thường? Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này là
giả tạm, luôn biến đổi, diễn tiến sanh rồi diệt; Thấy rõ
thực tướng của các pháp hữu vi là vô thường. Như vậy gọi là
tùy quán vô thường. Thế nào tùy quán khổ não? Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này
luôn biến đổi, biến diệt, bị bức xúc, không kham nổi; Thấy
rõ thực tướng của các pháp hữu vi là khổ. Như vậy gọi là tùy
quán khổ não. Thế nào là tùy quán vô ngã? Hành giả quán xét bằng trí tuệ, thấy rằng thân danh sắc này tự
sanh tự diệt, không có chủ quyền, không theo sự sắp đặt;
Thấy rõ các pháp hữu vi là vô ngã. Như vậy gọi là tùy quán
vô ngã. Tu tập tùy quán tam tướng là ba lối dẫn đến sự giải thoát, ba
cửa ngõ đi vào giải thoát. Gọi là tam giải thoát môn
(vimokkhamukha). Có ba sự giải thoát (vimokkha): vô tướng giải thoát
(animittavimokkha), vô nguyện giải thoát
(appaṇihitavimokkha), không tánh giải thoát
(suññatāvimokkha). Vô tướng giải thoát là gì? Sự thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp bàn ở
khía cạnh vô tướng (không hiện tượng sanh diệt). Đây gọi là
vô tướng giải thoát. Vô nguyện giải thoát là gì? Sự thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp Bàn ở
khía cạnh vô nguyện (không ước vọng). Đây gọi là vô nguyện
giải thoát. Không tánh giải thoát là gì? Sự giải thoát khỏi phiền não bằng thánh đạo mà bắt cảnh níp
bàn ở khía cạnh tánh không (tính rỗng không, không có thực
ngã). Đây gọi là không tánh giải thoát. Ba sự giải thoát này chứng đắc được do ba tùy quán tam tướng: Hành giả có tín mạnh (sung mãn, thắng giải,
adhimokkhabahula) tu tập tùy quán vô thường, vị ấy sẽ
đắc vô tướng giải thoát (animittavimokkha). Hành giả có định mạnh (sung mãn tịnh an, passaddhibahulo)
tu tập tùy quán khổ não, vị ấy sẽ chứng vô nguyện giải thoát
(appaṇihitavimokkha). Hành giả có tuệ mạnh (sung mãn mẫn tiệp, vedabahulo)
tu tập tùy quán vô ngã, vị ấy sẽ chứng không tánh giải thoát
(suññatāvimokkha). Do đó, ba pháp tùy quán được gọi là tam giải thoát môn
(vimokkhamukha). (1) Tùy quán vô thường
(aniccānupassanā) là vô tướng giải thoát môn
(animittavimokkhamukha). (2) Tùy quán khổ não
(dukkhānupassanā) là vô nguyện giải thoát môn
(appaṇihitavimokkhamukha). (3) Tùy quán vô ngã
(anattānupassanā) là không tánh giải thoát môn
(suññatāvimokkhamukha). Khi bậc tu tiến ba pháp tùy quán này lần lượt sẽ phát sanh
mười tuệ quán (vipassanāñāṇa). Không lâu sau, khi
tuệ quán cuối cùng sanh khởi thì Đạo tuệ (maggañāṇa)
và Quả tuệ (phalañāṇa) cũng sanh. c. Mười tuệ quán (vipassanāñāṇa) là trí sanh khởi trình tự
trong tu tiến minh sát: (1) Thẩm sát tuệ (sammasanañāṇa) là trí quán xét ba
tướng phổ thông (vô thường, khổ não, vô ngã) của danh sắc
ngũ thủ uẩn. Quán thấy tướng vô thường là thấy danh sắc có
tính chất tạm bợ, sanh rồi diệt; Quán thấy tướng khổ não là
thấy danh sắc có tính chất đáng sợ, luôn bị bức xúc, bất an
vì liên tục sanh diệt; Quán thấy tướng vô ngã là thấy danh
sắc có tính chất rỗng không, vô năng, không chủ quyền. (2) Sanh diệt tuệ (udayabbayañāṇa) là tuệ thấy rõ
danh sắc sanh và danh sắc diệt, thấy rõ sự biến đổi của các
pháp hiện tại đang diễn ra. Tuệ này khởi lên có hai giai
đoạn: Giai đoạn đầu, tuệ mới mẻ non nớt, sẽ phát sanh 10 ấn
chứng tùy phiền não [10 tùy phiền não là ánh sáng
(obhāso), tiệp tuệ (ñāṇaṃ), hoan hỷ (pīti),
tịnh an (passaddhi), an lạc (sukhaṃ), xác
tín (adhimokkho), cần dõng (paggaho),
cường niệm (upaṭṭhānaṃ), xả nhiên (upekkhā),
khát vọng (nikanti)] dễ sanh ngộ nhận, giai đoạn
này gọi là sơ cơ sanh diệt tuệ (taruṇudayabbayañāṇa).
Giai đoạn sau, tuệ đến mức độ mạnh mẽ, sắc xảo, vượt qua tùy
phiền não, không thể bị ngăn ngại bởi kiến chấp, mạn chấp và
ái chấp, giai đoạn này gọi là dõng lực sanh diệt tuệ
(balavudayabbayañāṇa). (3) Hoại tán tuệ (bhaṅgañāṇa) là tuệ thấy hiện trạng
danh sắc biến hoại, tan rã. Khi hành giả ghi nhận sự sanh và
sự diệt của danh sắc càng lúc càng nhanh, đến nổi không còn
kịp ghi nhận hiện tượng sanh nữa mà chỉ thấy hiện tượng diệt
thôi. Ví như người ngồi xe, lúc đầu xe chạy chậm thì còn
thấy cây bên đường đến rồi đi qua, nhưng khi xe chạy nhanh
thì chỉ thấy hàng cây vụt qua thôi. (4) Kinh úy tuệ (bhayañāṇa) là tuệ thấy tính chất
đáng sợ của danh sắc, vì chúng hoại diệt quá nhanh và không
ngừng nghĩ. (5) Nguy hại tuệ (ādīnavañāṇa) là tuệ thấy sự nguy
hiểm trong danh sắc hữu vi. Cũng như kinh úy tuệ, nguy hại
tuệ đều là thấy khuyết điểm của pháp hữu vi; Trước là thấy
danh sắc đáng sợ (kinh úy tuệ), sau là thấy danh sắc nguy
hiểm (nguy hại tuệ). Như người đứng nhìn xuống hố chông với
những mũi chông nhọn hoặc chỉa lên, trước người ấy thấy
những chông nhọn đáng sợ, sau đó thấy hố chông nguy hiểm. (6) Yếm ố tuệ (nibbidāñāṇa) là tuệ nhàm chán, chán
ghét đối với danh sắc hữu vi bởi vì danh sắc sanh diệt, biến
hoại thật đáng sợ và thật nguy hiểm. Như người dân quê mò
tay vào cái nôm bắt cá, túm nhằm con rắn, khi lôi ra thấy đó
là con rắn hổ đáng sợ và nguy hiểm, anh ta chán ghét, không
thích cầm nó trong tay nữa. (7) Dục thoát tuệ (muñcitukamyatāñāṇa) là tuệ quán
chán danh sắc và muốn thoát khỏi hệ lụy các pháp hữu vi. Như
anh nhà quê túm nhằm con rắn hổ, ớn nó, muốn vất bỏ ngay,
muốn nhanh chóng thoát khỏi nó. (8) Giãn trạch tuệ (paṭisaṅkhāñāṇa) là tuệ hồi quán
tam tướng, phản chiếu các hành vô thường khổ não vô ngã để
cũng cố tuệ mạnh hơn hầu thoát khỏi các pháp hữu vi hệ lụy.
Như người nhà quê khi muốn thoát khỏi con rắn, muốn quẳng nó
đi, bèn nắm đuôi con rắn quay tít hai ba vòng và buông tay,
con rắn văng ra xa. (9) Hành xả tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa) là tuệ quán đã
tinh thục già dặn, nhìn tướng sanh diệt của danh sắc một
cách bình thản, dửng dưng, không thấy sợ, không chán ghét,
xem đó là vận hành tự nhiên của pháp hữu vi. (10) Thuận thứ tuệ (anulomañāṇa) là tuệ thuận theo
trước và sau. Thuận theo trước là cũng cái nhìn danh sắc qua
khía cạnh tam tướng như chín tuệ quán trước; Thuận theo sau
pháp giác phần thể nhập thánh đạo. Tuệ thuận thứ khởi lên trong lộ đắc đạo (maggavīthi).
Tuệ này diễn ra vài sát na tâm, đầu tiên có tên là sát na
chuẩn bị (parikammakhaṇa), thứ hai là sát na cận
hành (upacārakhaṇa), thứ ba là sát na thuận thứ
(anulomakhaṇa). Hành giả nếu hợp duyên chứng níp bàn ngay trong kiếp hiện tại
thì sau khi đạt đến hành xả tuệ, Tín – Tấn – Niệm – Định trở
nên mạnh mẽ thì tuệ thuận thứ sẽ khởi lên tạo thành lộ đắc
đạo, cứu cánh của quá trình tu tiến tuệ quán. Nếu hành giả
tu quán nhưng chưa hợp duyên đắc đạo hiệp thế, thì chỉ đạt
tới hành xả tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa) rồi dừng lại
đó. Mười tuệ quán hay tuệ minh sát (vipassanāñāṇa) là
những tuệ tu tiến lấy tam tướng (tilakkhaṇa) làm
cảnh. Nếu kể mười sáu tuệ trong tăng thượng tuệ
(adhipaññā) thì kể thêm sáu tuệ nữa là hai tuệ lấy danh
sắc làm cảnh (phân định danh sắc tuệ, Hiển duyên danh sắc
tuệ), ba tuệ lấy níp bàn làm cảnh (Chuyển tộc tuệ, Đạo tuệ,
Quả tuệ), một tuệ lấy đạo quả níp bàn và phiền não đã trừ
làm cảnh (phản khán tuệ). Mười sáu
tuệ thứ tự như sau: (1) Phân định danh sắc tuệ
(nāmarūpaparicchedañāṇa) (2) Hiển duyên danh sắc
tuệ (nāmarūpapaccayapariggahañāṇa) (3) Thẩm sát tuệ
(sammasanañāṇa) (4) Sanh diệt tuệ
(udayabbayañāṇa) (5) Hoại tán tuệ
(bhaṅgañāṇa) (6) Kinh úy tuệ
(bhayañāṇa) (7) Nguy hại tuệ
(ādīnavañāṇa) (8) Yếm ố tuệ
(nibbidāñāṇa) (9) Dục thoát tuệ
(muñcitukamyatāñāṇa) (10) Giãn trạch tuệ
(paṭisaṅkhāñāṇa) (11) Hành xã tuệ
(saṅkhārupekkhāñāṇa) (12) Thuận thứ tuệ
(anulomañāṇa) (13) Chuyển tộc tuệ
(gotrabhūñāṇa) (14) Đạo tuệ
(maggañāṇa) (15) Quả tuệ
(phalañāṇa) (16) Phản khán tuệ
(paccavekkhaṇañāṇa)
(còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |