|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 03 tháng 05, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,136)
Bài
3. Kinh Brahmadeva (Brahmadevasuttaṃ)
-KHI TRỜI TÁN THÁN CON PHẬT.
Hiếm khi có
trường hợp một người tên Phạm Thiên, xuất thân từ giai cấp
được xem là giòng dõi Phạm thiên, trong gia đình thờ cúng
Phạm thiên mà lại được chính Phạm thiên dùng lời xưng tán.
Bài kinh nầy tuy ngắn nhưng ghi lại những “kỳ tích” của trần
gian từ hữu danh tới hữu thực; từ tế tự đến tạo phước thật
sự; từ tín ngưỡng tới tri thức; từ bờ mê tới bến giác. Hình
ảnh của một bậc ứng cúng giải thoát được Phạm thiên
Sahampatti xưng tán khác hẳn hoàn toàn với sự thờ cúng thần
linh mà con người thường có. Một người hiểu biết sẽ suy gẫm
về điều “tại sao trời xa thì thờ, mà Phật gần thì không
cúng”. Biết đâu từ đó có những lãnh hội đáng quý.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena
aññatarissā brāhmaṇiyā brahmadevo nāma putto bhagavato
santike agārasmā anagāriyaṃ pabbajito hoti.
Tôi được nghe như vầy
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, chùa Kỳ Viên – ngôi già
lam do ông Anāthapindika dâng cúng.
Lúc ấy có Brahmadeva con trai của một nữ bà la môn rời gia
đình đi tu sống đời xuất gia theo Đức Thế Tôn.
Atha kho āyasmā brahmadevo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī
pahitatto viharanto nacirasseva – yassatthāya kulaputtā
sammadeva agārasmā anagāriyaṃ pabbajanti, tadanuttaraṃ
brahmacariyapariyosānaṃ diṭṭheva dhamme sayaṃ abhiññā
sacchikatvā upasampajja vihāsi. ‘‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’’ti
abbhaññāsi. Aññataro ca panāyasmā brahmadevo arahataṃ ahosi.
Rồi Tôn giả Brahmadeva sống độc, viễn ly, không xao lãn,
nhiệt tâm, cần mẫn, không bao lâu chứng được sự giác ngộ mà
các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống
đời xuất gia. Đó chính là cứu cánh Phạm hạnh vô thượng.
Vị ấy tự thân biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa". Tôn giả
Brahmadeva đã trở thành một vị A-la-hán.
Atha kho āyasmā brahmadevo pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya sāvatthiṃ piṇḍāya pāvisi. Sāvatthiyaṃ
sapadānaṃ piṇḍāya caramāno yena sakamātu nivesanaṃ
tenupasaṅkami. Tena kho pana samayena āyasmato brahmadevassa
mātā brāhmaṇī brahmuno āhutiṃ niccaṃ paggaṇhāti. Atha kho
brahmuno sahampatissa etadahosi – ‘‘ayaṃ kho āyasmato
brahmadevassa mātā brāhmaṇī brahmuno āhutiṃ niccaṃ
paggaṇhāti. Yaṃnūnāhaṃ taṃ upasaṅkamitvā saṃvejeyya’’nti.
Atha kho brahmā sahampati – seyyathāpi nāma balavā puriso
samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya
evameva – brahmaloke antarahito āyasmato brahmadevassa mātu
nivesane pāturahosi.
Ngày kia vào buổi sáng Tôn giả Brahmadeva đắp y, mang bát,
cầm y kép, đi vào Sàvatthi để khất thực. Trong khi đi tuần
tự khất thực ở Sāvatthi, Tôn giả Brahmadeva đến nhà người mẹ
của mình.
Thời gian ấy nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva, thường cúng
tế Phạm thiên.
Rồi Phạm thiên Sahampati suy nghĩ: "Nữ Bà-la-môn này là mẹ
Tôn giả Brahmadeva
thường cúng tế Phạm thiên. Vậy ta hãy đến và khiến bà
bừng chuyển tâm ý".
Rồi Phạm thiên Sahampati, như một người luyện tập thể hình
nhanh lẹ co duỗi cánh tay biến mất ở Phạm thiên giới và hiện
ra trong nhà mẹ của Tôn giả Brahmadeva.
Atha kho brahmā sahampati vehāsaṃ ṭhito āyasmato
brahmadevassa mātaraṃ brāhmaṇiṃ gāthāya ajjhabhāsi –
‘‘Dūre ito brāhmaṇi brahmaloko,
Rồi Phạm thiên Sahampati đứng giữa hư không nói lên kệ ngôn
này với nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva:
Hỡi nữ Bà la môn, phạm thiên giới rất xa
Tôn giả Brahmadevo, hỡi nữ Bà la môn
Bậc đáng được cung kính, bậc tri thức, bậc khéo chuyển hoá
Với vị ấy trước không có, sau cũng không
Rời bỏ đám đông với tâm tịch mặc
Với lòng tịnh tín bất động nơi vị ấy
[ Với lòng tịnh tín bất động nơi vị ấy
‘‘Dūre ito brāhmaṇi brahmaloko = Hỡi nữ Bà la môn, phạm thiên giới rất xa
Theo Sớ giải thì chữ Abbhaññāsi mang ý nghĩa sự thấy trong
cảnh giới hồi quán (paccavekkhanạ bhūmi) khả năng tự xác
định quả vị chứng ngộ của vị A la hán. Tuần tự khất thực (sapadānam
pinḍạ̄ya caramāno) là hạnh trì bình đi từng nhà một không
phân biệt ai thường cúng dường, ai không cúng dường. Theo Sớ giải thì Āhutim niccam pagganḥāti chỉ cho sự cúng
tế hằng ngày với cơm sữa ngọt - thứ lễ phẩm trong đạo bà la
môn. Theo Sớ giải đường đến phạm thiên giới (brahmapatha) nói đúng
nghĩa là bốn thiền chứng. Phạm thiên sống với năng lực của
thiền định chứ không sống bằng cơm sữa như quan niệm theo
tín ngưỡng dân gian. Không còn sở y - nirūpadhika - là không còn lệ thuộc vào
phiền não, tạo tác, dục lạc những thứ mà tâm tư nương gá. Vượt khỏi những vị trời – atidevapatto – vì đã đạt đến cảnh
giới siêu thế. Không hoả mù (vidhūmo) chỉ cho sự không còn sân hận Vô sản – akiñcana – là không thủ đắc tư hữu Không đầu tư – anaññaposī – không vợ con và không tạo thân
sanh tử sau đời nầy. Trước cũng không mà sau cũng chẳng có
- Na tassa pacchā na
puratthamatthi - chỉ cho tâm an nhiên không truy cầu ái chấp
đối cái đã qua hay cái chưa tới. Theo Sớ giải thì bốn câu sau cùng không phải của Phạm thiên
Sahampatti mà là của người trùng tuyên (như một người viết
nhạc dùng điệp khúc thay vì phiên khúc như để kéo dài nguồn
cảm hứng) Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |