BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 04 tháng 05, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,136)  

Bài 4. Kinh Brahmadeva (Brahmadevasuttaṃ) -CÁI NGÔNG CỦA NGƯỜI GIÀU.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

 

 

Cõi phạm thiên là cảnh giới của chúng sanh nhờ năng lực của thiền chứng mà thọ sanh. Trong số những đặc điểm của những cõi phạm thiên phải nói đến thọ mạng rất dài và sự thanh tịnh vì không hưởng ngũ dục. Điều nầy tự nhiên tạo ra kiến chấp nơi một số các vị phạm thiên về hai phạm trù thượng đế và linh hồn. Một số sau khi sanh trở lại thân nhân loại nhớ về kiếp phạm thiên càng chấp thủ kiến chấp trên. Hiện tượng nầy được ghi rõ trong Kinh Phạm Võng, Trường Bộ. Chúng sanh trong cõi vui dục giới thường ma hệ luỵ của đắm nhiễm dục trần. Còn các phạm thiên trong các cõi thiền thường rơi vào ngã chấp. Cũng như trong thế giới loài người thì kẻ nghèo có những bệnh của người nghèo mà người giàu cũng có những bệnh ngông của người giàu. Đó là lý do Đức Phật dạy tu tập tuệ quán để xoá tan những mê chấp lầm lạc.

Kinh Văn:

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tena kho pana samayena bakassa brahmuno evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti – ‘‘idaṃ niccaṃ, idaṃ dhuvaṃ, idaṃ sassataṃ, idaṃ kevalaṃ, idaṃ acavanadhammaṃ, idañhi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati, ito ca panaññaṃ uttariṃ [uttariṃ (sī. syā. kaṃ. pī.)] nissaraṇaṃ natthī’’ti.

Tôi được nghe như vầy

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, chùa Kỳ Viên – ngôi già lam do ông Anāthapindika dâng cúng.

Bấy giờ Phạm thiên Baka có chấp kiến mê lầm: Đây là bất biến. đây là hằng hữu, đây là vĩnh cữu. đây là hoàn hảo. đây là bất động. Đây chính thật là không sanh, không già, không chết, không hoại diệt , không tập khởi. Không có sự giải thoát nào cao hơn.

Atha kho bhagavā bakassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya – seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Addasā kho bako brahmā bhagavantaṃ dūratova āgacchantaṃ. Disvāna bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘ehi kho mārisa, svāgataṃ te, mārisa! Cirassaṃ kho mārisa! Imaṃ pariyāyamakāsi yadidaṃ idhāgamanāya. Idañhi, mārisa, niccaṃ, idaṃ dhuvaṃ, idaṃ sassataṃ, idaṃ kevalaṃ, idaṃ acavanadhammaṃ, idañhi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati. Ito ca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ natthī’’ti.

Rồi Đức Thế Tôn, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Phạm thiên Baka. Nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay  Ngài biến mất ở Jetavana (Kỳ Viên) và hiện ra ở Phạm thiên giới.

Phạm Thiên Baka thấy Thế Tôn từ xa đi đến liền nói:

-- Hãy đến đây, Tôn giả ! Chào mừng Tôn giả! Đã lâu Tôn giả mới tạo cơ duyên  đến đây.  Đây là bất biến. đây là hằng hữu, đây là vĩnh cữu. đây là hoàn hảo. đây là bất động. Đây chính thật là không sanh, không già, không chết, không hoại diệt , không tập khởi. Không có sự giải thoát nào cao hơn.

Evaṃ vutte, bhagavā bakaṃ brahmānaṃ etadavoca – ‘‘avijjāgato vata, bho, bako brahmā; avijjāgato vata, bho, bako brahmā. Yatra hi nāma aniccaṃyeva samānaṃ niccanti vakkhati, adhuvaṃyeva samānaṃ dhuvanti vakkhati, asassataṃyeva samānaṃ sassatanti vakkhati, akevalaṃyeva samānaṃ kevalanti vakkhati, cavanadhammaṃyeva samānaṃ acavanadhammanti vakkhati. Yattha ca pana jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca, tañca tathā vakkhati – ‘idañhi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati’. Santañca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ, ‘natthaññaṃ uttari nissaraṇa’nti vakkhatī’’ti.

Nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Phạm thiên Baka:

Phạm thiên Baka, ngươi quả thật bao phủ bởi vô minh.  Phạm thiên Baka, ngươi quả là không hiểu biết.  Cái biến đổi cho là bất biến. Cái chuyển dịch cho là hằng hữu. Cái có chung cuộc cho vĩnh cửu. Cái bất toàn cho là hoàn hảo. Cái bị hư hoại cho là bất động. Bị sanh, già, chết, hoại diệt, tập khởi chi phối cho rằng: đây chính thật là không sanh, không già, không chết, không hoại diệt, không tập khởi. Trong lúc có cái khác cao hơn thì cho là không có sự giải thoát nào cao hơn.

(Baka)

‘‘Dvāsattati gotama puññakammā,

Vasavattino jātijaraṃ atītā;

Ayamantimā vedagū brahmupapatti,

Asmābhijappanti janā anekā’’ti.

Tôn giả Gotama

Chúng ta tạo công đức

Bảy mươi hai phước hạnh

Nên giờ đầy quyền lực

Vượt khỏi sanh và già

Toàn tri, thân tối hậu

Bao người mong được vậy

(Thế Tôn)

‘‘Appañhi etaṃ na hi dīghamāyu,

Yaṃ tvaṃ baka maññasi dīghamāyuṃ;

Sataṃ sahassānaṃ [sahassāna (syā. kaṃ.)] nirabbudānaṃ,

Āyuṃ pajānāmi tavāhaṃ brahme’’ti.

Kiếp sống ngắn, không dài

Baka nghĩ trường thọ

Hỡi Phạm thiên, ta biết

Ông sống thêm trăm ngàn

Nirabbudāna (…)

(Baka)

‘‘Anantadassī bhagavāhamasmi,

Jātijaraṃ sokamupātivatto;

Kiṃ me purāṇaṃ vatasīlavattaṃ,

Ācikkha me taṃ yamahaṃ vijaññā’’ti.

Bạch Thế Tôn, Ngài nói:

Ngài bậc vô biên trí

Thoát sanh, già, sầu não

Vậy xưa con là ai?

Có những hạnh nguyện gì?

Xin nói để con hiểu

(Thế Tôn)

‘‘Yaṃ tvaṃ apāyesi bahū manusse,

Pipāsite ghammani samparete;

Taṃ te purāṇaṃ vatasīlavattaṃ,

Suttappabuddhova anussarāmi.

‘‘Yaṃ eṇikūlasmiṃ janaṃ gahītaṃ,

Amocayī gayhakaṃ nīyamānaṃ;

Taṃ te purāṇaṃ vatasīlavattaṃ,

Suttappabuddhova anussarāmi.

‘‘Gaṅgāya sotasmiṃ gahītanāvaṃ,

Luddena nāgena manussakamyā;

Pamocayittha balasā pasayha,

Taṃ te purāṇaṃ vatasīlavattaṃ,

Suttappabuddhova anussarāmi.

‘‘Kappo ca te baddhacaro ahosiṃ,

Sambuddhimantaṃ [sambuddhivantaṃ (bahūsu)] vatinaṃ amaññi;

Taṃ te purāṇaṃ vatasīlavattaṃ,

Suttappabuddhova anussarāmī’’ti.

Kiếp xưa Ngươi cho nước

Đến người bị nóng, khát

Hạnh nguyện Ngươi đã làm

Ta nhớ như thức giấc

Bên bờ sông Sơn Dương

Cứu người bị bắt giữ

Hạnh nguyện Ngươi đã làm

Ta nhớ như thức giấc

Xưa thuyền giữa Sông Hằng

Bị mãng xà tấn công

Vì muốn ăn thịt người

Ngươi can đảm cứu nguy

Hạnh nguyện Ngươi đã làm

Ta nhớ như thức giấc

Ta xưa tên Kappa

Là học trò của ngươi

Ngươi hun đúc trí đức

Hạnh nguyện Ngươi đã làm

Ta nhớ như thức giấc

(Baka)

‘‘Addhā pajānāsi mametamāyuṃ,

Aññepi jānāsi tathā hi buddho;

Tathā hi tyāyaṃ jalitānubhāvo,

Obhāsayaṃ tiṭṭhati brahmaloka’’nti.

Ngài thật biết đời con,

Tường tri nhiều người khác

Vì Ngài chính là Phật

Sáng chói Phạm thiên giới

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Yatra hi nāma aniccaṃyeva samānaṃ niccanti vakkhati =  Cái biến đổi cho là bất biến.

Adhuvaṃyeva samānaṃ dhuvanti vakkhati =Cái chuyển dịch cho là hằng hữu.

Asassataṃyeva samānaṃ sassatanti vakkhati =Cái có chung cuộc cho vĩnh cửu.

Akevalaṃyeva samānaṃ kevalanti vakkhati = Cái bất toàn cho là hoàn hảo.

Cavanadhammaṃyeva samānaṃ acavanadhammanti vakkhati =Cái bị hư hoại cho là bất động.

Yattha ca pana jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca, tañca tathā vakkhati – ‘idañhi na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na upapajjati’ = Bị sanh, già, chết, hoại diệt, tập khởi chi phối cho rằng đây chính thật là không sanh, không già, không chết, không hoại diệt , tập khởi

Santañca panaññaṃ uttari nissaraṇaṃ, ‘natthaññaṃ uttari nissaraṇa’nti vakkhatī’’ti = Trong lúc có sự giải thoát cao hơn thì cho là không có sự giải thoát nào cao hơn.

 

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Câu chuyện Đức Phật độ Phạm thiên Baka cũng được ghi lại trong Kinh Phạm Thiên Mời Thỉnh, Trung Bộ, bài kinh số 49 với nhiều chi tiết khác biệt. Theo các một số các học giả thì có thể do tên gọi Baka mang nhiều ý nghĩa khác nhau.

Theo Sớ giải kinh (Brahmanimantanika sutta) chữ baka là một từ kép của hai từ bhava và sakkāya có nghĩa là ngã kiến. Chấp kiến tự ngã là điều thường xẩy ra đôi với các vị phạm thiên sắc giới vì thọ mạng dài và thanh tịnh của thiền định. Baka cũng có nghĩa là con sếu. Trong văn học Veda, con sếu tượng trưng cho sự xảo quyệt ở đây chỉ cho tâm thái lộng giả thành chân. Baka cũng có thể là tên riêng của một chúng sanh. Như vậy rất có thể là không phải chỉ có một phạm thiên được biết tới với tên Baka. (….)

Theo Sớ giải khi Đức Phật dạy “có thứ giải thoát cao hơn” chỉ cho những thiền chứng cao hơn sở đắc của Phạm thiên Baka và đạo, quả, niết bàn.

Theo Sớ giải thì vị Phạm thiên nầy từ thân nhân loại chứng thiền sanh về cõi tứ thiền Quảng quả (Vehapphala) với tuổi thọ 500 đại kiếp, rồi sanh xuống cõi tam thiền Biến tịnh thiên (Subhakinḥa) với tuổi thọ 64 đại kiếp. Sau đó sanh xuống cõi nhị thiền Quang âm thiên (Ābhassara) với tuổi thọ 8 đại kiếp. Lai sanh xuống cõi sơ thiên với tuổi thọ một đại kiếp (chính là kiếp gặp Phật). Cũng theo Sớ giải vị nầy ban đầu sanh lên cõi phạm thiên còn nhớ túc nghiệp nhưng sống qua nhiều kiếp quá lâu ở phạm thiên giới nên không còn nhớ gì về thân nhân loại và khởi sanh thường kiến.  

̣Theo Sớ giải những con số được tính như sau: một nirabbuda bằng 20 abbudas; một abbudas bằng mười triệu ninnahutas; một ninnahutas bằng mười triệu nahutas; một nahutas bằng mười triệu koṭipakoṭi; một koṭipakoṭi mười triệu pakoṭi; một pakoṭi bằng mười triệu koṭi; một koṭi bằng mười triệu năm.

Theo Sớ giải con số một trăm ngàn nirabbuda chỉ là tuổi thọ còn lại của vị phạm thiên nầy không phải là thọ mạng trọn kiếp.

Câu “dvāsattati Gotama puññakammā - thưa Tôn giả Gotama chúng ta đã tạo 72 phước hạnh” không có chú thích trong Sớ giải là gồm có những gì. Tuy nhiên trong văn học Ấn con số 72 thường là thành ngữ chỉ cho “đủ mọi thứ cho mọi tình huống. Nói cách khác hoàn cảnh nào cũng tạo phước được.

Theo Sớ giải chữ abhijappanti ngoài nghĩa lễ bái còn mang ý nghĩa là mong mõi chứng đạt được (patthenti pihenti) hàm ý là nhiều người lễ bái và mong cầu được như vậy.

Câu Vatasīlavattan ti vuccati sīlam eva được giải thích bao gồm nguyện  (vatabhūtam) và giới hạnh (sīlavattam) nên dịch chung là hạnh nguyện.

 Câu Suttappabuddhova anussarāmi – ta nhớ rõ như người chợt tỉnh giấc - một thành ngữ mang ví dụ như người đang chiêm bao chợt tỉnh còn nhớ rất rõ những gì trong giấc mộng.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-