|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 07 tháng 05, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,144)
Bài
5. Kinh Một Phạm Thiên Khác (Aññatarabrahmasuttaṃ)
-Ở TẬN TRỜI CAO MÀ NHƯ ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG.
Ở cảnh giới cao
người ta thường tự thị, chính vì thế, hoá ra nông cạn. Với
thọ mạng rất dài và năng lực thiền định, các vị phạm thiên
rất dễ sanh cái nhìn thường kiến và sự tối thắng của bản
thân đặc biệt là các vị Đại Phạm thiên. Người chấp ngã luôn
luôn có cái nhìn rất thấp và phiến diện cho dù bản thân
người đó ở địa vị cao trọng nào.
Bài kinh cũng mang một gợi ý khác là khi một người
thật sự nhận ra giá trị vô thượng của Phật, Pháp, Tăng sẽ
giảm thiểu ngã chấp, nhờ vậy, tinh tiến trên đường tu tập.
Sāvatthinidānaṃ. Tena kho pana samayena aññatarassa brahmuno
evarūpaṃ pāpakaṃ diṭṭhigataṃ uppannaṃ hoti – ‘‘natthi so
samaṇo vā brāhmaṇo vā yo idha āgaccheyyā’’ti. Atha kho
bhagavā tassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya –
seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... tasmiṃ brahmaloke
pāturahosi. Atha kho bhagavā tassa brahmuno upari vehāsaṃ
pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu
kho bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā
mahāmoggallāno [mahāmoggalāno (ka.)] bhagavantaṃ dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tassa brahmuno upari
vehāsaṃ pallaṅkena nisinnaṃ tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna –
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya,
pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – jetavane antarahito
tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahāmoggallāno
puratthimaṃ disaṃ nissāya [upanissāya (sī.)] tassa brahmuno
upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā
nīcataraṃ bhagavato.
Tại Sāvatthi.
Bấy giờ, có một Phạm thiên
khởi lên châp kiến sai lạc: "Không một Sa môn hay Bà
la môn nào có thể đến đây".
Rồi Đức
Thế Tôn, với tâm tư của mình biết được tâm tư của Phạm
thiên ấy.
Nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay
Ngài biến mất ở
Jetavana (Kỳ Viên) và hiện ra ở Phạm thiên giới.
Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm
thiên ấy và nhập hoả tam muội định.
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn
đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả
Mahāmoggallāna thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không,
phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.. Thấy
vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới
ấy nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay.
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna ngồi kiết già giữa hư
không phía dưới Thế Tôn về hướng
đông trên đầu vị Phạm
thiên ấy và nhập hoả tam muội định.
Atha kho āyasmato mahākassapassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho
bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākassapo
bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... disvāna – seyyathāpi
nāma balavā puriso...pe... evameva – jetavane antarahito
tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho āyasmā mahākassapo
dakkhiṇaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno upari vehāsaṃ
pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā nīcataraṃ
bhagavato.
Rồi Tôn giả Mahākassapa khởi lên
ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh
tịnh, siêu nhân, Tôn giả Mahākassapa thấy Đức Thế Tôn ngồi
kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm thiên ấy và nhập
hoả tam muội định.. Thấy vậy, ngài biến mất ở Jetavana và
hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người luyện tập thể
hình co duỗi cánh tay.
Rồi Tôn giả Mahākassapa ngồi kiết già giữa hư không
phía dưới Thế Tôn về hướng
nam trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội
định.
Atha kho āyasmato mahākappinassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho
bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā mahākappino
bhagavantaṃ dibbena cakkhunā...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ.
Disvāna – seyyathāpi nāma balavā puriso...pe... evameva –
jetavane antarahito tasmiṃ brahmaloke pāturahosi. Atha kho
āyasmā mahākappino pacchimaṃ disaṃ nissāya tassa brahmuno
upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ samāpajjitvā
nīcataraṃ bhagavato.
Rồi Tôn giả Mahākappina khởi lên
ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở đâu?". Với thiên nhãn thanh
tịnh, siêu nhân, Tôn giả Mahākappina
thấy Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía
trên đầu Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội định.. Thấy vậy,
ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy
nhanh như người luyện tập thể hình co duỗi cánh tay.
Rồi Tôn giả Mahākappina
ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về
hướng tây trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội
định.
Atha kho āyasmato anuruddhassa etadahosi – ‘‘kahaṃ nu kho
bhagavā etarahi viharatī’’ti? Addasā kho āyasmā
anuruddho...pe... tejodhātuṃ samāpannaṃ. Disvāna –
seyyathāpi nāma balavā puriso... pe... tasmiṃ brahmaloke
pāturahosi. Atha kho āyasmā anuruddho uttaraṃ disaṃ nissāya
tassa brahmuno upari vehāsaṃ pallaṅkena nisīdi tejodhātuṃ
samāpajjitvā nīcataraṃ bhagavato.
Rồi Tôn giả Anuruddha khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn đang ở
đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Tôn giả
Anuruddha thấy
Đức Thế Tôn ngồi kiết già giữa hư không, phía trên đầu Phạm
thiên ấy và nhập hoả tam muội định.. Thấy vậy, ngài biến mất
ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy nhanh như người
luyện tập thể hình co duỗi cánh tay.
Rồi Tôn giả Anuruddha
ngồi kiết già giữa hư không phía dưới Thế Tôn về
hướng bắc trên đầu vị Phạm thiên ấy và nhập hoả tam muội
định.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ brahmānaṃ gāthāya
ajjhabhāsi –
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna nói Phạm thiên ấy bằng kệ ngôn:
Hôm nay, hỡi Hiền giả
(Phạm thiên ấy)
Atha kho bhagavā taṃ brahmānaṃ saṃvejetvā – seyyathāpi nāma
balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā
bāhaṃ samiñjeyya evameva – tasmiṃ brahmaloke antarahito
jetavane pāturahosi. Atha kho so brahmā aññataraṃ
brahmapārisajjaṃ āmantesi – ‘‘ehi tvaṃ, mārisa, yenāyasmā
mahāmoggallāno tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ
mahāmoggallānaṃ evaṃ vadehi – ‘atthi nu kho, mārisa
moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā
evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo
kappino anuruddho’’’ti? ‘‘Evaṃ, mārisā’’ti kho so
brahmapārisajjo tassa brahmuno paṭissutvā yenāyasmā
mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ
mahāmoggallānaṃ etadavoca – ‘‘atthi nu kho, mārisa
moggallāna, aññepi tassa bhagavato sāvakā evaṃmahiddhikā
evaṃmahānubhāvā; seyyathāpi bhavaṃ moggallāno kassapo
kappino anuruddho’’ti? Atha kho āyasmā mahāmoggallāno taṃ
brahmapārisajjaṃ gāthāya ajjhabhāsi –
‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;
Rồi Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy rúng động tâm tư,
biến mất ở Phạm thiên giới ấy
và hiện ra ở Jetavana nhanh như người luyện tập thể
hình co duỗi cánh tay.
Rồi Phạm thiên ấy nói với một Phạm thiên trong thiên chúng:
-- Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahāmoggallāna và bạch
hởi: "Thưa Tôn giả Moggallāna, Đức Thế Tôn còn có những vị
đệ tử nào khác mà thần lực và
uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina
và Anuruddha?"
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Phạm thiên trong thiên chúng
vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả
Mahāmoggallāna bạch hỏi rằng: "Thưa Tôn giả Moggallāna, Đức
Thế Tôn còn có những vị đệ tử nào khác mà thần lực và
uy đức như các Tôn giả Moggallāna, Kassapa, Kappina
và Anuruddha?"
(Tôn giả Mahāmoggallāna trả lời)
Rất nhiều đệ tử Phật
Atha kho so brahmapārisajjo āyasmato mahāmoggallānassa
bhāsitaṃ abhinanditvā anumoditvā yena so brahmā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṃ brahmānaṃ etadavoca –
‘‘āyasmā mārisa, mahāmoggallāno evamāha –
‘‘Tevijjā iddhipattā ca, cetopariyāyakovidā;
Rồi Phạm thiên ấy hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mahāmoggallāna
đi đến Ðại Phạm thiên
thưa rằng:
-- Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahā Moggallāna cho biết:
Rất nhiều đệ tử Phật
Idamavoca so brahmapārisajjo. Attamano ca so brahmā tassa
brahmapārisajjassa bhāsitaṃ abhinandīti.
Phạm thiên ấy nói như vậy, vị Đại Phạm thiên kia hoan hỷ tín
thọ.
‘‘Ajjāpi te āvuso sā diṭṭhi yā te diṭṭhi pure ahu = hôm nay Người có còn kiến chấp trước kia?
Nhập hoả tam muội định ở đây là nhập vào thiền án lửa sau đó
xuất thiền và khởi niệm: lửa từ châu thân phun ra.
Theo Sớ giải thì bấy giờ hào quang của Đức Phật sáng hơn tất
cả những ánh sáng tại phạm thiên giới.
Theo Sớ giải thì vị Đại Phạm thiên có hai cái nhìn sai lầm:
một là cho rằng không có một sa môn hay bà la môn nào có thể
để cõi phạm thiên ấy hay là chấp vào thường kiến. Khi Đức
Phật và các đệ tử xuất hiện thì sự chấp sai đầu tiên không
còn và sau đó Đức Phật đã giảng pháp và vị Đại phạm thiên
chứng quả nhập lưu. Tam
minh là ba thứ tuệ giác ưu việt: túc mạng minh, sanh tử minh
và lậu tận minh. Một vị chứng tam minh luôn có lục thông
trong lúc một vị chứng lục thông không hẳn có đủ tam minh.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |