|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 08 tháng 05, 2022
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
PHẦN II-PHẬT PHÁP
Bài 30. Diệt Đế
Diệt đế là sự chấm dứt đau khổ.
Được Đức Phật chỉ rõ là sự
tận diệt hoàn toàn căn nguyên của khổ đau như được ghi lại
trong Kinh Chuyển Pháp Luân (Tương Ưng Bộ V, 420):
idaṃ kho pana, bhikkhave, dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ — yo
tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti
anālayo.
Nầy các Tỳ kheo, đây là diệu đế về diệt khổ: đoạn tận không
còn dư y (taṇhāya
asesavirāganirodho), buông xả (cāgo), từ bỏ (paṭinissaggo),
giải thoát (mutti), vô nhiễm (anālayo) đối với
khát ái.
Diệt đế đồng nghĩa
với niết bàn.
Trên cả hai phương diện ngữ và nghĩa thì đây là điểm vô cùng
tế nhị mà một người học Phật Pháp cần cẩn trọng. Có thể nói
ngôn ngữ diễn tả chỉ có thể giúp để hiểu một cách tương đối.
Tinh thần học hỏi khách quan và nghiêm túc hết sức cần thiết
để nói về điều nầy.
Niết bàn –
Nibbāna – là cứu cánh của người tu Phật.
Có rất
nhiều cái nhìn dị biệt về Niết bàn, đặc biệt là dựa theo
quan điểm tông phái. Có thể nói là thà không bàn tới hơn là
đưa ra một lập luận sai lạc rồi dẫn đến sự nhận thức sai
lạc.
Nên bắt đầu
tìm hiểu Niết bàn bằng sự khiêm tốn thành thật thừa nhận
giới hạn của sự hiểu biết.
Chúng ta thường nghĩ rằng với lý luận và ngôn ngữ thì có
thể hiểu biết mọi thức nếu được diễn tả đầy đủ. Sự thật thì
có những điều không thể nói bằng ngôn từ. Trong Kinh Subha
sutta, Trung Bộ, Đức Phật có đưa ra thí dụ về một người
khiếm thị bẩm sinh. Vì chưa bao giờ thấy được màu sắc nên
nếu có ai dùng lời nói để mô tả sự khác biệt giữa các màu
xanh, vàng, đỏ, trắng … thì càng nói càng khiến hiểu sai.
Tương tự như vậy đối với phàm nhân chưa tự thân chứng ngộ
giải thoát thì sự mô tả về Niết bàn rất dễ dẫn đến ngộ nhận.
Hiểu Niết
bàn qua vị thế nhận thức.
Trong Tăng Chi Bộ, Phẩm 5 pháp, Đức Phật dạy
về sự liễu chứng Niết bàn với với từ góc nhìn như sau: “Tự
thân chứng ngộ, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, tỏ ngộ từ
nội tại, được cảm nhận bởi các bậc trí”.
Phải hiểu rõ 5 điều nầy mới thấy được tại sao rất khó
đối với người không thực tu, thực chứng có thể thấu đạt được
Niết bàn là gì.
Hiểu Niết
bàn qua trạng thái đối lập là dukkha.
Dukkha thường được dịch là đau khổ
nhưng hàm nghĩa rất rộng. Đó là cái gì bất toàn, khó chịu,
rỗng không. Bản chất của dukkha là là lẩn quẩn (saṁsāra
vaṭṭa) không lối thoát. Không thể hiểu Niết bàn nếu không
thật sự hiểu dukkha. Dukkha là cái gì gần gũi, dễ thấy, dễ
biết nhưng không có nghĩa là phần đông có thể hiểu được. Thí
dụ như bầy gà được cho ăn thì vui mừng nhưng không hiểu được
thân phận là người ta nuôi để làm thịt.
Hiểu Niết
bàn qua từ ngữ phủ định.
Một cách để nói về Niết bàn là dùng cách nói phủ định thí dụ
như ái tận, diệt khổ, vô vi, vô sanh bất tử….
Hiểu Niết
bàn qua từ ngữ đồng nghĩa tương đối. Mặc dù không có từ ngữ nào tương
đồng tuyệt đối nhưng cũng có thể dùng một số ý nghĩa tương
tự để mô tả thí dụ như
santa (an
tịnh), paṇīta (cao cả), suddhi (thanh tịnh), and khema (an
ổn). Tất nhiên phải dùng đúng với ngữ cảnh.
Hiểu Niết
bàn qua dụ ngôn.
Một
cách mà Đức Phật rất thường dùng để giải thích những điều
khó hiểu là dùng dụ ngôn. Nói về Niết bàn thì có nhiều hình
ảnh để minh hoạ. Như một vị A la hán như con bò đầu đàn dẫn
cả bầy bò qua sông an toàn.
Hay một người vượt qua được trùng dương phong ba bão
tố đến được bờ bến an ổn.
Hay sự chấm dứt sanh tử như ngọn lửa không tiếp tục
cháy vì cạn nhiên liệu Là cảnh giới an ổn. Là hòn đảo giữa
biển cả….
Một số từ ngữ mô tả về Niết bàn tìm thấy
trong kinh điển
Akaṇha-asukka: bất nhị
Khi phải nói về Niết bàn Đức Phật đã nói thế nào?
Trong kinh ghi lại có những lần Đức Phật dạy về niết bàn một
cách trực tiếp qua pháp thoại. Dưới đây là một só trích dẫn.
Trong Udāna, Tiểu Bộ:
“Này chư tỳ kheo, có cảnh giới không có địa đại, thuỷ đại,
phong đại, hoả đại. Không có không vô biên, thức vô biên, vô
sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng. Không có đời nầy, không có
đời sau. Không có nhật, nguyệt. Như Lai không nói cảnh giới
đó có đến, đi, sanh, diệt. Chính là sự diệt khổ”.
“Quả thật Niết bàn không dễ thấy biết khi còn vô minh và ái
chấp sanh hữu. Chỉ có nội tâm đoạn tận vô minh và ái mới có
thể thật sự liễu ngộ”.
Này chư tỳ kheo, có cái không sanh(ajāta) , không trở
thành(abhūta) , không tạo(akata),
không bị tạo(asaṅkhata). Chính là sự giải thoát cái
bị sanh, bị già, hữu vi.
Còn lệ thuộc là còn dao động. Không lệ thuộc thì không dao
động. Không giao động thì tịch tịnh. Không thiên chấp, không
đến, không đi. Không đến, không đi thì không sanh không
diệt. Không sanh không diệt thì không đời nầy không đời sau.
Đó là sự chấm dứt hoàn toàn khổ uẩn. (Còn tiếp) Tỳ khưu Giác Đẳng |