|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 09, tháng 05, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMACHƯƠNG IX. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) Bài 75. TOÁT YẾU NGHIỆP XỨ (Kammaṭṭhānasaṅgaha) (tiếp theo)
d.
Thất tịnh
(visuddhi)
là bảy giai đoạn thanh tịnh của hành trình giải thoát: Trong
kinh Trạm xe (Rathavinītasutta), Trung bộ kinh, bài
số 24 – Bảy Tịnh Pháp được thí dụ như bảy trạm xe. Nhà vua
đi từ Sāvatthi đến Sāketa, chặng đường dài được bố trí mỗi
quãng đường có một trạm dừng chân để thay đổi xe và ngựa. Từ
thành Sāvatthi đến thành Sāketa có bảy trạm. Vua phải đi qua
tuần tự bảy trạm xe mới đến nơi. Cũng vậy, hành trình tu tập
đến giải thoát, vị hành giả phải tuần tự thực hành bảy pháp
tịnh là giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, đoạn nghi tịnh, đạo
phi đạo tri kiến tịnh, hành lộ tri kiến tịnh và tri kiến
tịnh. Giới
tịnh (Sīlavisuddhi) là sự thanh tịnh về giới hạnh,
nghiêm trì giới luật làm cho thân khẩu ý được trong sạch.
Hành giả, là vị tu sĩ phải thực thi tứ thanh tịnh giới (biệt
giải thoát thu thúc giới, lục căn thu thúc giới, tưởng mạng
thanh tịnh giới, nhu yếu thọ dụng giới). Hành giả là cư sĩ
phải thực thi một trong bốn loại giới tại gia (ngũ giới, bát
quan trai giới, thập giới, hượt mạng đệ bát giới –
Ājīvaṭṭhamakasīla). Khi
hành giả có giới tịnh mới an trú tâm bất hối, không nóng
nảy, và tiến hành tâm tịnh được. Tâm
tịnh (cittavisuddhi) là an định nội tâm, tâm được
vắng lặng năm triền cái (nīvaraṇa). Có ba loại định
tâm (samādhi) là kiên cố định (appanāsamādhi),
cận hành định (upacārasamādhi), và sát na định
(khaṇikasamādhi). Có hai
hạng hành giả tu tiến quán nghiệp xứ: Hạng samathayānika
(chỉ thừa), hạng vipassanāyānika (quán thừa). Hạng
hành giả chỉ thừa (samathayānika) là người có thiền
chỉ làm phương tiện, tức là tu tiến thiền chỉ trước, đắc
kiên cố định (appanāsamādhi) hoặc cận hành định
(upacārasamādhi) rồi dùng định này làm phương tiện để
tu tiến thiền quán. Hạng
hành giả quán thừa (vipassanāyānika) cũng gọi là
hành giả quán khô (sukkhavipassaka), hạng hành giả
này không tu thiền chỉ, mà nhiếp tâm chánh niệm vào đề mục
minh sát, tập trung trên đối tượng quán và đè nén các triền
cái, gọi là sát na định (khaṇikasamādhi), lấy sát
na định làm phương tiện tu tiến thiền quán. Vì hành giả tu
quán này “khô thiền”, không có thiền chỉ làm phương tiện nên
gọi là “quán khô” (sukkhavipassaka). Kiến
tịnh (diṭṭhivisuddhi) là sự thanh tịnh tri kiến,
chánh kiến sanh khởi. Giai
đoạn kiến tịnh là giai đọan khởi lên tuệ phân định danh sắc
(nāmarūpaparicchedañāṇa). Hành
giả có cái nhìn phân định “đây là danh, đây là sắc”; thấy
danh sắc qua năm uẩn (khandha), thấy danh sắc qua
12 xứ (āyatana), thấy danh sắc qua mười tám giới
(dhātu). Tuệ là
chánh kiến về danh sắc, đó gọi là kiến tịnh. Đoạn
nghi tịnh (kaṅkhāvitaraṇavisuddhi) là sự thanh tịnh
của trí tuệ vượt qua sự hoài nghi tam thế: phá tan hoài nghi
quá khứ, phá tan hoài nghi vị lai, phá tan hoài nghi hiện
tại. Giai
đoạn Đoạn nghi tịnh là giai đoạn khởi lên tuệ hiển duyên
danh sắc (nāmarūpapaccayapariggahañāṇa). Hành
giả nghiệm ra tứ thực (āhāra) là duyên trợ sanh
danh sắc; Hoặc nghiệm ra căn, cảnh, thức và nghiệp là duyên
trợ sanh danh sắc; Hoặc nghiệm ra y tương sinh là duyên sanh
ra danh sắc; Hoặc nghiệm ra ba luân là duyên sanh ra danh
sắc ..v.v.. Chính
nhờ trí nghiệm ra duyên sanh danh sắc mà hành giả dẹp tan
các mối nghi hoặc nên gọi là đoạn nghi tịnh. Đạo
phi đạo tri kiến tịnh (maggāmaggañāṇadassanavisuddhi)
là sự thanh tịnh tri kiến do trí biết rõ đạo (magga)
và phi đạo (amagga).
Thế nào? Giai
đoạn tịnh này là hành giả sanh khởi Thẩm sát tuệ
(sammasanañāṇa) và sanh diệt tuệ (udayabbayañāṇa). Hành
giả tùy quán ba tướng phổ thông đối với danh sắc ngũ uẩn;
Thấy danh sắc là vô thường (anicca) vì tính chất
tạm bợ, diễn biến sanh rồi diệt, có rồi mất; Thấy danh sắc
là khổ vì tính chất biến hoại không ngừng, bức xúc, bất
toại; Thấy danh sắc là vô ngã vì tính chất rỗng không, vô
quyền năng. Đây gọi là Thẩm sát tuệ. Sau
khi tùy quán tam tướng, hành giả nhận thấy danh sắc rốt ráo
chỉ là hiện tượng sanh diệt, từ hiện tượng sanh diệt của
danh sắc mà có tính chất vô thường, khổ, vô ngã, nên hành
giả tác ý đến sanh diệt thôi. Đây gọi là Sanh diệt tuệ. Chính
trong giai đoạn này mười tùy phiền não sẽ quán hiện ra nơi
hành giả [tùy phiền não quán (vipassanūpakilesa) là
ánh sáng, tiệp tuệ, hoan hỷ, yên tịnh, an lạc, xác tín, cần
dõng, cường niệm, xả nhiên và khát vọng] và do đó dễ bị
vướng mắc ngộ nhận. Nếu hành giả giữ vững lập trường, không
chú ý tới ánh sáng ..v.v.. thì đạo và phi đạo sẽ
phân ranh rõ ràng, nên giai đoạn này được gọi là Đạo phi đạo
tri kiến tịnh. Hành
lộ tri kiến tịnh (paṭipadāñāṇadassanavisuddhi) là
sự thanh tịnh tri kiến do hành trình tuệ quán tuần tự dẫn
đến đích điểm. Cũng ví như một người đi vào thạch động để
khám phá. Sau khi đi qua các ngõ ngách, cuối cùng hiện ra
một lối đi dẫn tới điểm sáng phía trước. Cũng vậy cuối hành
lộ tri kiến tịnh là điểm sáng giải thoát. Hành
lộ tri kiến tịnh là giai đoạn sanh khởi chín thứ tuệ quán
tuần tự: Dõng lực sanh diệt tuệ (balavudayabbayañāṇa),
Hoại tán tuệ (bhaṅgañaṇa), Kinh úy tuệ
(bhayañāṇa), Nguy hoại tuệ (ādīnavañāṇa), Yếm
ố tuệ (nibbidāñāṇa), Dục thoát tuệ
(muñcitukamyatāñāṇa), Giãn trạch tuệ
(paṭisaṅkhāñāṇa), Hành xã tuệ (saṅkhārupekkhāñāṇa),
và Thuận thứ tuệ (anulomañāṇa). Từ tuệ
thẩm sát (sammasanañāṇa) đến tuệ Thuận thứ
(anulomañāṇa) là mười tuệ quán (vipassanāñāṇa)
lấy tam tướng là cảnh. Tri
kiến tịnh (ñāṇadassanavisuddhi) là sự thanh tịnh
tri kiến, giai đoạn cuối cùng của hành trình minh sát, đạt
tới giải thoát (vimokkha). Giai
đoạn tri kiến tịnh có bốn tuệ là Chuyển tộc tuệ
(gotrabhūñāṇa), Đạo tuệ (maggañāṇa), Quả tuệ
(phalañāṇa), và phản khán tuệ
(paccavekkhanañāṇa). Đến đây đã đủ mười sáu tuệ. Chuyển
tộc tuệ (gotrabhūñāṇa) là tuệ chấm dứt phàm chủng
tánh (puthujjanagottaṃ abhibhūyati) để bước qua
thánh chủng tánh (ariyagotta). Chuyển
tộc tuệ lấy Níp bàn làm cảnh nhưng vẫn còn là tuệ hiệp thế
(trí đổng lực thiện dục giới). Trong lộ đắc đạo, sát na
chuẩn bị, sát na cận hành, sát na thuận thứ và sát na chuyển
tộc đồng một thứ tâm là tâm thiện dục giới hợp trí. Chuyển
tộc tuệ là giao điểm giữa phàm phu tánh và thánh tánh, dẫn
xuất minh sát và dẫn nhập thánh đạo. Đạo
tuệ (maggañaṇa) chính là sát na tâm đạo tiếp nối
sát na chuyển tộc trong lộ đắc đạo (maggavīthi).
Tuệ thánh đạo thuộc lãnh vực siêu thế (lokuttarabhūmi). Có bốn
thứ Đạo tuệ: a. Sơ
đạo tuệ (paṭhamamaggañāṇa) là dự lưu đạo hay Tu đà
hườn đạo (sotāpattimagga), Tầng thánh đạo thứ nhất
(paṭhamamagga). Thánh đạo này có mãnh lực tuyệt trừ
ba kiết sử thấp là Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, đồng
thời tuyệt trừ tham dẫn đọa xứ (apāyagamanīyarāga)
và sân dẫn đọa xứ (apāyagamanīyapaṭigha). b. Nhị
đạo tuệ (dutiyamaggañāṇa) là thánh đạo thứ hai, tức
là Nhất lai đạo hay Tư đà hàm đạo (sakadāgāmimagga).
Thánh đạo này có tác dụng làm suy yếu dục tham kiết sử, phẫn
nộ kiết sử, đồng thời làm hoại chủng tử tái sanh cõi dục quá
hai đời. c. Tam
đạo tuệ (tatiyamaggañāṇa) là thánh đạo thứ ba, tức
là Bất lai đạo hay A na hàm đạo (Anāgāmimagga).
Thánh đạo này có mãnh lực tuyệt trừ hai kiết sử đã muội lược
là tham dục kiết sử và phẫn nộ kiết sử, đồng thời làm hoại
chủng tử tái sanh dục giới. d. Tứ
đạo tuệ (catutthamaggañāṇa) là thánh đạo thứ tư,
đạo tột bực, tức là Ứng cúng đạo hay A la hán đạo
(arahattamagga). Thánh đạo này tuyệt trừ năm thượng
phần kiết sử là sắc ái, vô sắc ái, mạn, phóng dật và vô
minh, đồng thời triệt tiêu chủng tử tái sanh luân hồi. Đạo
tuệ khởi lên trong lộ đắc đạo chỉ một sát na. Sát na sơ đạo
thì sanh tiếp nối sát na chuyển tộc (gotrabhū). Sát
na nhị đạo, tam đạo, tứ đạo thì sanh tiếp nối sát na khiết
hóa (vodāna) – Tâm vodāna thay thế tâm gotrabhū.
Thay vì là tâm chuyển tộc (chuyển hóa từ phàm chủng tánh
sang thánh chủng tánh) thì đắc ba đạo cao, tâm nhị đạo, tam
đạo và tứ đạo tiếp nối tâm khiết hóa (tinh khiết hơn, từ
thánh tánh thấp lên thánh tánh cao). Khi
sát na tâm đạo diệt trợ liên tiếp sát na tâm quả siêu thế
sanh khởi, gọi là quả tuệ. Quả
tuệ (phalañāṇa) chính là sát na tâm quả siêu thế
sanh tiếp nối tâm đạo trong lộ đắc đạo (maggavīthi).
Quả tuệ cũng thuộc lãnh vực siêu thế (lokuttarabhūmi). Có bốn
thứ quả tuệ: a. Sơ
quả tuệ (paṭhamaphalañāṇa) là thánh quả thứ nhất,
tức là Dự lưu quả hay Tu Đà Hườn quả (sotāpattiphala).
Sơ quả tuệ sanh khởi tiếp nối sơ đạo trong lộ đắc sơ đạo; Sơ
quả tuệ khởi lên hai hay ba sát na. Khi đắc sơ đạo hành giả
được gọi là người đạo Dự lưu (sotāpattimaggapuggala),
và khi tâm sơ quả khởi lên, vị ấy trở thành bậc Thánh quả dự
lưu (sotāpattiphalapuggala) Sơ đạo tuệ cắt đứt ba
hạ phần kiết sử; Sơ quả tuệ lắng yên nên ba kiết sử ấy. b. Nhị
quả tuệ (dutiyaphalañāṇa) là thánh quả thứ hai, tức
là Nhất lai quả hay Tư đà hàm quả (sakadāgamiphala).
Nhị quả tuệ sanh khởi tiếp nối Nhị đạo tuệ trong lộ đắc nhị
đạo; Nhị quả tuệ khởi lên hai hay ba sát na. Khi đắc nhị đạo
gọi là người đạo Nhất lai (sakadāgāmimaggapuggala)
và khi tâm Nhị quả khởi lên gọi là người quả Nhất Lai
(sakadāgāmiphalapuggala). Nhị quả tuệ tạm lắng yên Dục
ái và phẫn nộ, hai kiết sử mà Nhị Đạo tuệ đã làm suy yếu. c. Tam
quả tuệ (tatiyaphalañāṇa) là thánh quả thứ ba, tức
là bất lai quả hay A na hàm quả (Anāgāmiphala). Tam
quả tuệ sanh khởi tiếp nối Tam đạo tuệ trong lộ đắc tam đạo,
Tam quả tuệ khởi lên hai hay ba sát na. Khi đắc tam đạo gọi
là người đạo bất lai (Anāgāmimaggapuggala) và khi
tâm tam quả khởi lên gọi là người quả bất lai
(Anāgāmiphalapuggala). Tam quả tuệ lắng yên Dục ái và
phẫn nộ, hai kiết sử mà tam đạo tuệ đã cắt đứt. d. Tứ
quả tuệ (catutthaphalañāṇa) là thánh quả thứ tư,
tức là ứng cúng quả hay A la Hán quả (Arahattaphala).
Tứ quả tuệ sanh khởi tiếp nối Tứ Đạo tuệ trong lộ đắc Tứ
đạo. Tứ quả tuệ khởi lên hai hay ba sát na. Khi đắc tứ đạo
gọi là người đạo ứng cúng (Arahattamaggapuggala) và
khi tâm tứ quả khởi lên gọi là người quả ứng cúng
(Arahattaphalapuggala). Tứ quả tuệ lắng yên sắc ái, vô
sắc ái, mạn, phóng dật và vô minh, là năm thượng phần kiết
sử mà tứ đạo tuệ đã cắt đứt. Cũng
nên biết rằng, Đạo tuệ (maggañāṇa) là Đoạn tận trí
(khayeñāṇaṃ) bởi cắt đứt phiền não
(kilesasamucchedana); Quả tuệ (phalañāṇa) là
vô sanh trí (uppādenānaṃ) bởi lắng yên phiền não
(kilesapassambhana). Bây
giờ nói đến Phản khán tuệ (paccavekkhaṇañāṇa). Phản
khán tuệ là tuệ thứ 16, và được kể là tuệ thuộc Tri kiến
tịnh. Hành
giả sau khi chứng Đạo tuệ và quả tuệ liền quán xét lại những
gì mình đã chứng và những gì mình đã đoạn trừ, tuệ quán xét
ấy gọi là phản khán tuệ (paccavekkhaṇañāṇa). Phản
khán tuệ khởi lên trong lộ tâm ý môn thông thường với bảy
sát na đổng lực thiện dục giới hợp trí, và lộ tâm làm việc
phản khán ấy sẽ diễn ra vô số lộ tâm. Sau lộ đắc đạo
(maggavīthi) và lộ nhập thiền quả
(phalasamāpattivīthi) thường diễn ra lộ phản khán. Các
bậc thánh hữu học có năm tuệ phản khán là phản khán đạo tuệ
đã chứng (maggapaccavekkhaṇa), phản khán quả tuệ đã
đắc (phalapaccavekkhaṇa), phản khán níp bàn đã thể
nhập (nibbānapaccavekkhaṇa), phản khán phiền não đã
trừ (pahīnakilesapaccavekkhaṇa), và phản khán phiền
não còn dư sót (avasiṭṭhakilesapaccavekkhaṇa). Hai
tuệ phản khán phiền não có thể có, và có thể không đối với
các bậc thánh hữu học. Bậc
thánh vô học (A La hán) có bốn tuệ phản khán là phản khán
đạo tuệ đã chứng, phản khán quả tuệ đã đắc, phản khán níp
bàn đã thể nhập, và phản khán phiền não đã trừ. Tóm
lại, Tri kiến tịnh là giai đoạn tịnh pháp cuối cùng trong
thất tịnh, được kể là có bốn tuệ: Chuyển tộc tuệ, Đạo tuệ,
Quả tuệ, và Phản khán tuệ. Thật ra, Đạo tuệ và Quả tuệ mới
là chính trong Tri kiến tịnh vì đó là hai tuệ siêu thế. Còn
Chuyển tộc tuệ và Phản khán tuệ là hai tuệ hiệp thế; Nhưng
Chuyển tộc tuệ vì bắt cảnh níp bàn nên cũng được kể là Tri
kiến tịnh; Phản khán tuệ sanh nơi cơ tánh của bậc thánh nên
cũng được kể là Tri kiến tịnh. e. Bốn
hạng thánh nhân
(Ariyapuggala) Trong
giáo pháp này, người diệt trừ được phiền não, đắc đạo quả
siêu thế, giác ngộ níp bàn, gọi là thánh nhân
(ariyapuggala). Có bốn
hạng thánh nhân: Thánh Dự lưu (Sotāpannapuggala),
thánh Nhất lai (Sakadāgāmipuggala), Thánh bất lai
(Anāgāmipuggala), và Thánh A La Hán
(Arahattapuggala). (1)
Thánh Dự lưu (Sotāpannapuggala) là người chứng được
tâm đạo dự lưu (sotāpattimaggacitta) hay sơ đạo
(paṭhamamaggacitta) và chứng được tâm quả dự lưu
(sotāpattiphalacitta) hay sơ quả
(paṭhamaphalacitta). Kể từ sát na sơ quả trở đi gọi la
thánh Dự lưu hay thánh Tu đà hườn (Sotāpanna). Được
gọi là Thánh Dự lưu vì vị ấy đã nhập vào dòng chảy dẫn đến
níp bàn. Dòng chảy (sota) là bát thánh đạo. Bậc dự
lưu đã đoạn tận hai phiền não nghiêm trọng đó là tà kiến
(thân kiến, giới cấm thủ) và hoài nghi. Vị ấy cũng đoạn trừ
những đặc tính thô của những phiền não còn lại, là những đặc
tính mà có thể dẫn xuống cõi khổ. Do đó bậc thánh Dự lưu
nhất định không sanh vào khổ cảnh nữa. Bậc dự
lưu có niềm tin bất động đối với Phật (buddha),
Pháp (dhamma), Tăng (saṅgha); Vị ấy tuân
thủ kiên định năm giới và không vi phạm bất cứ điều nào
trong mười bất thiện nghiệp đạo (akusalakammapātha).
Bốn tâm tham căn tương ưng tà kiến tà kiến và tâm si căn
tương ưng hoài nghi không sanh khởi nơi vị ấy nữa. Thánh
Dự lưu có ba hạng: a.
Hạng dự lưu còn bảy lần tái sanh
(sattakkhattuparamasotāpanna) b.
Hạng dự lưu còn tái sanh hai ba đời (kolaṅkolasotāpanna) c.
Hạng dự lưu chỉ một kiếp này hoặc sanh một lần nữa rồi níp
bàn (ekabījīsotapanna) (2)
Thánh Nhất lai (sakadāgāmipuggala) là người chứng
được tâm đạo Nhất lai (sakadāgāmimaggacitta) hay
nhị đạo (dutiyamaggacitta) và chứng được tâm quả
Nhất lai (sakadāgāmiphalacitta) hay tâm nhị quả
(dutiyaphalacitta). Kể từ sát na nhị quả trở đi gọi là
thánh nhất lai hay thánh Tư đà hàm (sakadāgāmi). Được
gọi là thánh nhất lai vì vị ấy nếu còn sanh lại cõi dục thì
chỉ một lần thôi, chắc chắn sẽ chứng A la Hán trong kiếp
sống ấy. Bậc
Nhất lai thanh tịnh hơn Bậc Dự lưu, dù rằng chưa đoạn tuyệt
bảy kiết sử cũng giống như bậc Dự lưu nhưng dục ái triền và
phẫn nộ triền bậc Nhất lai đã làm suy yếu, nhẹ đi tánh ái,
sân và si so với bậc dự lưu. Bậc dự
lưu (sotāpanna) tu tiến pháp quán (vipassanā)
thêm nữa thì sẽ đạt đến đạo quả Nhất lai. Bốn
hạng thánh Nhất lai: a.
Hạng Nhất lai đắc ở cõi nầy rồi viên tịch cõi nầy (Idha
patvā idha parinibbāyī). b.
Hạng Nhất lai đắc ở cõi nầy rồi sanh cõi khác viên tịch ở
đấy (Idha patvā tattha parinibbāyī). c.
Hạng Nhất lai đắc ở cõi khác rồi viên tịch ở đấy (Tattha
patvā tattha parinibbāyī). d.
Hạng Nhất lai đắc ở cõi khác sanh lại cõi này rồi viên tịch
ở đây (Tattha patvā idha parinibbāyī). (3)
Thánh Bất lai (Ānāgāmipuggala) Bậc
Nhất lai tu tiến pháp quán thêm nữa sẽ chứng đạt đến thánh
Bất lai. Thánh Bất Lai là người chứng được tâm đạo Bất Lai
(Anāgāmimaggacitta) hay tam đạo
(tatiyamaggacitta) và chứng được tâm quả Bất Lai
(Anāgāmiphalacitta) hay tâm tam quả
(tatiyaphalacitta). Kể từ sát na tam quả trở đi gọi là
thánh Bất lai hay A na hàm (Anāgāmi). Được
gọi là thánh Bất lai vì vị ấy không còn sanh lại cõi dục
giới nữa; Nếu trong đời này chưa chứng A la hán, vị ấy sẽ
sanh vào cõi Phạm thiên, nhất là cõi Tịnh cư
(suddhāvāsa) và chắc chắn sẽ níp bàn tại đấy. Bậc
thánh Bất lai hoàn toàn đoạn tận hai kiết sử là dục ái
(kāmarāgasaṃyojana) và phẫn nộ (paṭighasaṃyojana),
một vị A na hàm sẽ không có lòng ham muốn lạc thú cảnh trần,
và không có sự tức giận, âu lo, sợ hãi hay thọ ưu nào. Tâm
của vị ấy an tịnh, nếu đã chứng thiền sắc và vô sắc, vị ấy
cũng có thể nhập thiền diệt (nirodhasamāpatti), tức
là diệt thọ tưởng định (vedayitasaññānirodhasamāpatti),
làm ngừng sự hoạt động của tâm pháp. Năm
hạng thánh Bất lai: a.
Hạng Bất lai sanh lên cõi nào trong năm cõi tịnh cư khoảng
giữa đời thì đắc A la hán, gọi là Trung thọ viên tịch
(antarāparinibbāyī). b.
Hạng Bất lai sanh lên cõi nào trong năm cõi tịnh cư đến quá
nữa đời sắp chết mới đắc A la hán, gọi là Mãn thọ viên tịch
(upahaccaparinibbāyī). c.
Hạng Bất lai sanh lên cõi nào trong năm cõi tịnh cư, không
cần gắng sức cũng dễ dàng đắc A la hán, gọi là Vô trợ viên
tịch (asaṅkhāraparinibbāyī). d.
Hạng bất lai sanh lên cõi nào trong năm cõi tịnh cư, phải
gắng sức mới đắc A la hán gọi là Hữu trợ viên tịch
(sasaṅkhāraparinibbāyī). e.
Hạng bất lai sanh lên cõi tịnh cư, từ cõi vô phiền thiên,
sanh tiếp cõi vô nhiệt thiên, rồi tiếp thiện hiện thiên,
thiện kiến thiên, tới cuối cùng đến sắc cứu cánh thiên mới
đắc A la hán, gọi là Thượng lưu sắc cứu cánh
(uddhaṃsotākaniṭṭhagāmī). (4)
Thánh A la hán (Arahaṃ) Bậc
Bất lai tiếp tục phát triển pháp quán sẽ chứng đạt A la hán.
Thánh A la hán là người chứng được tâm đạo A la hán
(arahattamaggacitta) hay tâm tứ đạo
(catutthamaggacitta), và chứng được tâm quả a la hán
(arahattaphalacitta) hay tâm tứ quả
(catutthaphalacitta). Kể từ sát na tứ quả trở đi gọi là
thánh A la hán (Arahaṃ). Vị A
la hán là bậc đáng được trời người kính lễ và cúng dường để
hưởng quả phước thù thắng. Nên cũng gọi Arahaṃ là bậc “Ưng
Cúng”. Vị A
la hán là bậc đã phá vỡ bánh xe luân hồi sanh tử, không còn
tái sanh nữa. Nên cũng gọi vị A la hán là bậc “vô sanh”. Vị A
la hán là bậc vô học (asekho) vì không cần trãi qua
bất cứ sự tu tập nào nữa. Một vị đã quăng bỏ gánh nặng, việc
nên làm đã làm xong. Bậc Dự lưu (sotāpanna), bậc
Nhất lai (sakadāgāmi) và bậc Bất lai (anāgāmi)
còn là bậc hữu học (sekho) vì còn phải tu tập thêm. Vị A
la hán là bậc hoàn toàn thanh tịnh vì đã đoạn trừ tất cả
phiền não (kilesa), mọi kiết sử (saṃyojana)
đã cắt đứt. Vị ấy không có tâm bất thiện (akusalacitta),
kể cả tâm thiện cũng không. Tâm sanh (cittuppāda)
của bậc A la hán chỉ là tâm tố hay tâm duy tác
(kiriyācitta). Có sáu
hạng A la hán: a.
Hạng A la hán tín giải thoát (saddhāvimutto). Đây
là bậc A la hán không có thiền, chỉ nhờ tu quán có tín quyền
mạnh mà đạt được giải thoát, đoạn tận khổ. b.
Hạng A la hán Tuệ giải thoát (paññāvimutto). Đây là
bậc A la hán cũng không có thiền, nhờ tu quán có tuệ quyền
mạnh mà đạt được giải thoát, đoạn tận khổ. c.
Hạng A la hán câu phần giải thoát (ubhatobhāgavimutto),
là bậc A la hán có chứng thiền định trước mới đắc quả giải
thoát sau. Cũng gọi là bậc A la hán tâm giải thoát
(cetovimutto). d.
Hạng A la hán tam minh (tevijjo), là vị A la hán
đắc đạo quả hữu thiền, chứng ba minh là túc mạng minh, sanh
tử minh và lậu tận minh. e.
Hạng A la hán lục thông (chalabhiñño) là vị A la
hán đắc đạo quả hữu thiền, chứng được sáu thông là biến hóa
thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên
nhãn thông, và lậu tận thông. Hạng A
la hán tứ đạt thông (paṭisambhidāpabhedappatto), là
vị A la hán vừa khi chứng đạo quả A la hán đồng thời đắc bốn
tuệ phân tích là pháp đạt thông, nghĩa đạt thông, ngữ đạt
thông và biện tài đạt thông.
(Dứt phần
Toát Yếu Nghiệp Xứ, kết thúc giáo trình Thắng Pháp Toát Yếu)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu @@@@@I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |