|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 28 tháng 05, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG VI. TƯƠNG ƯNG PHẠM THIÊN ,(S.i,149)
Bài
10. Kinh Kokālika(2)(Kokālikasuttaṃ)
-MÃNH LỰC CỦA HIỀM HẬN.
Khi sự căm ghét
trở thành oan kết thì không dễ dàng để buông bỏ. Chính oan
trái tạo ra nhiều ác hạnh không phải chỉ một đời mà nhiều
đời trong giòng sanh tử. Khi hiềm hận chất chứa cao độ thì
dù đối tượng là thánh nhân thì cao khiết cũng thành xấu xa.
Một khi hận thù đã lên men thì Trời có khuyên, Phật có dạy
cũng không chuyển hoá được. Những ai hiểu được sự độc hại
của hận thù sẽ quyết tâm diệt trừ những oan kết trong lòng.
Sāvatthinidānaṃ. Atha kho kokāliko bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho kokāliko bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘pāpicchā, bhante,
sāriputtamoggallānā pāpikānaṃ icchānaṃ vasaṃ gatā’’ti. Evaṃ
vutte, bhagavā kokālikaṃ bhikkhuṃ etadavoca – ‘‘mā hevaṃ,
kokālika, avaca; mā hevaṃ, kokālika, avaca. Pasādehi,
kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṃ. Pesalā
sāriputtamoggallānā’’ti. Dutiyampi kho kokāliko bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘kiñcāpi me, bhante, bhagavā
saddhāyiko paccayiko; atha kho pāpicchāva bhante,
sāriputtamoggallānā pāpikānaṃ icchānaṃ vasaṃ gatā’’ti.
Dutiyampi kho bhagavā kokālikaṃ bhikkhuṃ etadavoca – ‘‘mā
hevaṃ, kokālika, avaca; mā hevaṃ, kokālika, avaca. Pasādehi,
kokālika, sāriputtamoggallānesu cittaṃ. Pesalā
sāriputtamoggallānā’’ti. Tatiyampi kho kokāliko bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘kiñcāpi...pe... icchānaṃ vasaṃ
gatā’’ti. Tatiyampi kho bhagavā kokālikaṃ bhikkhuṃ etadavoca
– ‘‘mā hevaṃ...pe... pesalā sāriputtamoggallānā’’ti.
Tại Sāvatthi.
Bấy giờ tỳ khưu Kokālika đi đến Thế Tôn. Sau khi đến vị nầy
đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên rồi bạch rằbg :
-
Bạch Đức Thế Tôn,
Sāriputta và Moggallāna có ác dục. Họ bị ác dục chi
phối.
Khi nghe nói
vậy, Thế Tôn bảo tỳ khưu Kokālika:
-- Này Kokālika, chớ có nói như vậy. Này Kokālika, chớ có
nói như vậy. Này Kokālika, hãy đặt niềm tin ở Sāriputta và
Moggallāna . Sāriputta và Moggallāna thật là khả kính.
Lần thứ hai, ….
Lần thứ ba, [tỳ khưu Kokālika lập lại cáo buộc của mình và
Đức Thế Tôn vẫn khuyên ngăn]
Atha kho kokāliko bhikkhu uṭṭhāyāsanā bhagavantaṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā pakkāmi. Acirapakkantassa ca
kokālikassa bhikkhuno sāsapamattīhi pīḷakāhi [piḷakāhi (sī.
pī.)] sabbo kāyo phuṭo ahosi. Sāsapamattiyo hutvā
muggamattiyo ahesuṃ, muggamattiyo hutvā kalāyamattiyo
ahesuṃ, kalāyamattiyo hutvā kolaṭṭhimattiyo ahesuṃ,
kolaṭṭhimattiyo hutvā kolamattiyo ahesuṃ, kolamattiyo hutvā
āmalakamattiyo ahesuṃ, āmalakamattiyo hutvā
beluvasalāṭukamattiyo ahesuṃ, beluvasalāṭukamattiyo hutvā
billamattiyo ahesuṃ, billamattiyo hutvā pabhijjiṃsu.
Pubbañca lohitañca pagghariṃsu. Atha kho kokāliko bhikkhu
teneva ābādhena kālamakāsi. Kālaṅkato ca kokāliko bhikkhu
padumaṃ nirayaṃ upapajji sāriputtamoggallānesu cittaṃ
āghātetvā.
Rồi tỳ khưu Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Thế
Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
Không lâu sau đó tỳ khưu Kokālika lâm bệnh toàn thân nổi lên
những mụt nhỏ. Ban đầu băng hạt cải rồi lớn bằng hạt đậu.
Sau đó lớn bằng hột kalāya, rồi lớn bằng hột rolatthi, lai
lớn bằng trái kolama. Những mụt nầy lại to bằng trái amala,
lớn dần như trái beluva, rồi như trái billa. Sau đó vỡ ra
với máu và mủ rồi mạng sống chấm dứt. Do mệnh chung với tâm
hiềm hận Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna nên vị ấy
sanh vào địa ngục Paduma.
Atha kho brahmā sahampati abhikkantāya rattiyā
abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho brahmā sahampati
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘kokāliko, bhante, bhikkhu
kālaṅkato. Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṃ
nirayaṃ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṃ āghātetvā’’ti.
Idamavoca brahmā sahampati, idaṃ vatvā bhagavantaṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyīti.
Bấy giờ khi đêm gần tàn, Phạm thiên
Sahampati với dung sắc thù diệu, hào quang sáng toả khắp đại
tự Jetavana đi đến Đức Thế Tôn.
Sau khi đến vị nầy đảnh lễ
Đức Thế Tôn và đứng một bên rồi bạch rằng:
-- Bạch Thế Tôn, tỳ khưu
Kokālika mệnh chung. Do mệnh chung với tâm hiềm hận Tôn giả
Sāriputta và Tôn giả Moggallāna nên vị ấy sanh vào địa ngục
Paduma.
Phạm thiên Sahampati nói như
vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng
về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi –
‘‘imaṃ, bhikkhave, rattiṃ brahmā sahampati abhikkantāya
rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā
yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho, bhikkhave, brahmā
sahampati maṃ etadavoca – ‘kokāliko, bhante, bhikkhu
kālaṅkato. Kālaṅkato ca, bhante, kokāliko bhikkhu padumaṃ
nirayaṃ upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṃ āghātetvā’ti.
Idamavoca, bhikkhave, brahmā sahampati, idaṃ vatvā maṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyī’’ti.
Sáng hôm sau Đức Thế Tôn nói với chư tỳ khưu:
Này chư Tỳ khưu, tối qua khi đêm gần tàn, Phạm thiên
Sahampati với dung sắc thù diệu, hào quang sáng toả khắp đại
tự Jetavana đi đến gặp Ta.
Sau khi đến vị nầy đảnh lễ Ta và đứng một bên rồi bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, tỳ khưu Kokālika mệnh chung. Do mệnh chung
với tâm hiềm hận Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Moggallāna nên
vị ấy sanh vào địa ngục Paduma”. Phạm thiên Sahampati nói
như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về
Ta rồi biến mất tại chỗ ấy.
Evaṃ vutte, aññataro bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca –
‘‘kīvadīghaṃ nu kho, bhante, padume niraye āyuppamāṇa’’nti?
‘‘Dīghaṃ kho, bhikkhu, padume niraye āyuppamāṇaṃ. Taṃ na
sukaraṃ saṅkhātuṃ – ettakāni vassāni iti vā, ettakāni
vassasatāni iti vā, ettakāni vassasahassāni iti vā, ettakāni
vassasatasahassāni iti vā’’ti. ‘‘Sakkā pana, bhante, upamaṃ
kātu’’nti? ‘‘Sakkā, bhikkhū’’ti bhagavā avoca –
‘‘Seyyathāpi, bhikkhu vīsatikhāriko kosalako tilavāho. Tato
puriso vassasatassa vassasatassa accayena ekamekaṃ tilaṃ
uddhareyya; khippataraṃ kho so, bhikkhu, vīsatikhāriko
kosalako tilavāho iminā upakkamena parikkhayaṃ pariyādānaṃ
gaccheyya, na tveva eko abbudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu,
vīsati abbudā nirayā, evameko nirabbudanirayo. Seyyathāpi,
bhikkhu, vīsati nirabbudā nirayā, evameko ababo nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ababā nirayā, evameko aṭaṭo
nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati aṭaṭā nirayā, evameko
ahaho nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati ahahā nirayā,
evameko kumudo nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati kumudā
nirayā, evameko sogandhiko nirayo. Seyyathāpi, bhikkhu,
vīsati sogandhikā nirayā, evameko uppalanirayo. Seyyathāpi,
bhikkhu, vīsati uppalā nirayā, evameko puṇḍariko nirayo.
Seyyathāpi, bhikkhu, vīsati puṇḍarikā nirayā, evameko padumo
nirayo. Padume pana, bhikkhu, niraye kokāliko bhikkhu
upapanno sāriputtamoggallānesu cittaṃ āghātetvā’’ti.
Ðược nghe vậy, một tỳ khưu bạch hỏi Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, tuổi thọ trong địa ngục Paduma là bao lâu?
-- Này tỳ khưu, tuổi thọ trong địa ngục Paduma rất dài. Khó
có thể tính bằng con số của năm tháng.
-- Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví dụ?
Đức Thế Tôn đáp:
-- Có thể được, này Tỷ khưu.
Ví như số hạt mè chở đầy xe theo đơn vị đo lường xứ
Kosala là hai mươi khārika. Mỗi trăm năm có một người đến
lấy ra một hạt mè cho đến khi không còn hạt mè nào đó là
tuổi thọ trong dịa ngục Abhuda. Hai mươi lần tuổi thọ ở
Abhuda là tuổi thọ của địa ngục Nirabbuda. Hai mươi lần tuổi
thọ ở Nirabbuda
là tuổi thọ của địa
ngục Abala. Hai mươi lần tuổi thọ ở
Abalalà là tuổi thọ
của địa ngục Aṭaṭa. Hai mươi lần tuổi thọ ở
Aṭaṭa là tuổi thọ của địa ngục Ahaha. Hai mươi lần
tuổi thọ ở Ahaha
là tuổi thọ của địa ngục Kumuda. Hai mươi lần tuổi thọ ở
Kumuda là tuổi thọ của địa ngục Sogandika. Hai mươi
lần tuổi thọ ở
Sogandika là tuổi thọ của địa ngục Uppala. Hai mươi lần tuổi
thọ ở Uppala là
tuổi thọ của địa ngục Puṇḍarika. Hai mươi lần tuổi thọ ở
Puṇḍarika là tuổi thọ của địa ngục Paduma.
Tỳ khưu Kokālika mệnh chung sanh vào địa ngục Paduma
do tâm hiềm hận Sāriputta và Moggallāna.
Này Tỷ-kheo, ví như có một bao hột đậu mè, nặng hai mươi
khàrika, theo đo lường ở nước Kosala. Ví dụ sau một trăm
năm, một người lấy ra một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn
mau hơn là bao hột mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo
lường của nước Kosala, đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do
phương tiện ấy, so sánh (với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda.
Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một
tuổi thọ ở địa ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi
thọ ở địa ngục Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa.
Này-Tỷ kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một
tuổi thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở
địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha. Này
Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng một tuổi
thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa
ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika. Này
Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sogandhika bằng một
tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen xanh). Này Tỷ-kheo, hai
mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala bằng một tuổi thọ ở địa ngục
Pundarika (Sen trắng). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa
ngục Sen trắng bằng một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm
hận thù đối với tôn giả Sāriputta và Moggallāna.
Idamavoca bhagavā, idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā –
Sau khi nói như vậy, Đấng Thiện Thệ lại nói thêm:
Khi một người sanh ra
Purisassa hi jātassa kuṭhārī jāyate mukhe =người sanh ra với lưỡi búa trong miệng
Trong phẩm nầy trước khi cũng có bài kinh tên Kinh Kokālika
(Kokālikasuttaṃ) cả hai đều không đánh số nên bản dịch thêm
số vào ngoặc đơn. Theo kinh Bổn Sanh Takkāriya thì sự hiềm hận của tỳ khưu
Kokālika bắt nguồn từ một tiền kiếp sau đó oan trái nhiều
đời. Sớ giải cũng kể lại câu chuyện
trong hiện kiếp tỳ
khưu Kolālika bất mãn lớn đối với nhị vị thượng thủ thinh
văn chỉ vì lý do danh lợi như được ghi trong Kinh Pháp Cú
câu 360. Theo Sớ giải thì địa ngục Paduma là một phần của địa ngục
Avīci (địa ngục A tỳ hay điạ ngục Vô gián)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |