|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 02 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
CHUYỂN HOÁ BẢN THÂN MỚI ĐÚNG LÀ HIỂU BIẾT TRỌN VẸN. Bài 60. Kinh Nhân Duyên (Nidānasuttaṃ).
Cuộc sống là thể hiện của bộ máy vô cùng tinh vi tế nhị mà
Đức Phật gọi là duyên khởi. Trong ngôn từ diễn đạt, Bậc Đạo
Sư đã chỉ cho hệ thống tác động từ vật chất đến tâm thức, từ
thế giới nội tại đến ngoại tại, từ phiền não đến nghiệp quả.
Chúng ta chỉ thật sự liễu tri duyên khởi khi chứng tri niết
bàn, đoạn tận phiền não. Ngày nào còn kiết sử thì cái nhìn
đối với cuộc sống hay tiến trình sanh tử vẫn như cái nhìn
phiến diện đối với cội cây to lớn vượt tầm. Có những thứ
trong cuộc đời nầy không thể quán triệt bằng ngôn ngữ và lý
luận.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṃ nāma
kurūnaṃ nigamo. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ,
bhante! Yāva gambhīro cāyaṃ, bhante, paṭiccasamuppādo
gambhīrāvabhāso ca, atha ca pana me uttānakuttānako viya
khāyatī’’ti.
‘‘Mā hevaṃ, ānanda, mā hevaṃ, ānanda
!
Gambhīro cāyaṃ, ānanda, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca.
Etassa, ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṃ
pajā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā
muñjapabbajabhūtā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ
nātivattati.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự giữa dân chúng Kuru, tại một thị
trấn của người Kuru tên là Kammāsadamma (Kiều Sắt Đàm).
Bấy giờ Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:
-- Thật vi diệu thay, bạch Đức Thế Tôn! Thật tuyệt vời thay,
bạch ĐứcThế Tôn! Bạch Thế Tôn, định lý duyên khởi thật sâu
xa với những áo nghĩa thật tế nhị. Dù vậy đối với con thật
trong sáng rõ ràng.
-- Chớ nói vậy, này Ānanda! Chớ nói vậy, này Ānanda! Sâu xa
là định lý duyên khởi. Áo nghĩa thật tế nhị. Bởi vì không
liễu tri và quán triệt pháp nầy nên chúng sanh như cuộn chỉ
rối, bị đan kết như cỏ lau
như cỏ muñjā. Do vậy không thoát khỏi luân hồi trong
khổ cảnh, ác thú, đoạ xứ.
‘‘Upādāniyesu, ānanda, dhammesu assādānupassino viharato
taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā
bhavo; bhavapaccayā jāti; jātipaccayā jarāmaraṇaṃ
sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
‘‘Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho. Tassa yāni ceva mūlāni
adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṃ ojaṃ
abhiharanti. Evañhi so, ānanda, mahārukkho tadāhāro
tadupādāno ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya. Evameva kho,
ānanda, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato taṇhā
pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā
bhavo...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti.
-- Này Ānanda, khi một người sống trong sự miên man đối với
vị ngọt của các pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do duyên ái
nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do
duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết,
sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn
tập khởi.
-- Này Ānanda, ví như có một cây lớn với rễ ăn sâu xuống, ăn
ngang đem lại nhựa sống cho cây. Được nuôi như vậy, được bồi
dưỡng như vậy khiến cây có thể sống lâu dài. Cũng vậy,
khi một người sống trong sự miên man đối với vị ngọt
của các pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do duyên ái nên thủ
tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do duyên hữu
nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ,
ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.
‘‘Upādāniyesu, ānanda, dhammesu ādīnavānupassino viharato
taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho;
upādānanirodhā bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘‘Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho. Atha puriso āgaccheyya
kuddālapiṭakaṃ ādāya. So taṃ rukkhaṃ mūle chindeyya, mūle
chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya antamaso
usīranāḷimattānipi. So taṃ rukkhaṃ khaṇḍākhaṇḍikaṃ
chindeyya. Khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā phāleyya; phāletvā
sakalikaṃ sakalikaṃ kareyya, sakalikaṃ sakalikaṃ karitvā
vātātape visoseyya, vātātape visosetvā agginā ḍaheyya,
agginā ḍahetvā masiṃ kareyya, masiṃ karitvā mahāvāte vā
ophuṇeyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya. Evañhi so,
ānanda, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato
anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo. Evameva kho, ānanda,
upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā
nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā
bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā
jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti.
Dasamaṃ.
-- Này Ānanda, khi một người sống trong sự suy tư đối với
những nguy hiểm của những pháp chấp thủ thì ái diệt; do
duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên hữu diệt khởi;
do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên già chết, sầu,
bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.
-- Này Ānanda, ví như có một cây lớn. Rồi một người cầm cuốc
và giỏ đến. Người ấy đốn cây và đào gốc rễ lên. Người ấy
bứng lên lên rễ cái, rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây thành
từng khúc gỗ; rồi bửa ra thành củi, thành những miếng nhỏ.
Sau đó đem phơi nắng và chụm lửa. Khi củi cháy thành tro
người ấy rãi tro theo gió hay theo giòng sông. Cây lớn đã bị
đống, với tất cả rễ bị đào bứng lên không thể sống lại như
cây cây kè bị chặt ngọn, không thể hồi sinh ở tương lai.
Này Ānanda, tương tự như vậy khi một người sống trong sự suy
tư đối với những nguy hiểm của những pháp chấp thủ thì ái
diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên hữu
diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn
đoạn diệt.
Chú Thích
Kuru là một trong 16 quốc độ (mahājanapada) trong châu thổ
Sông Hằng thời Đức Phật tại thế. Ngày nay vùng đất nầy bao
gồm cả thủ đô New Delhi của Ấn Độ. Tình hình chính trị của
xứ Kuru được ghi nhận lúc kinh điển kết tập tương đối ổn
định và bình hoà. Đặc điểm là dân chúng xứ nầy rất có thiện
duyên tu tập thiền quán. Nhiều bài kinh quan trọng dạy về tứ
niệm xứ được Đức Phật thuyết giảng ở Kuru.
Kammāsadamma (Kiều
Sắt Đàm).là tên một thị trấn trong xứ Kuru nơi Đức Thế Tôn
ngự đến nhiều lần.
Tại chính nơi Đức Phật thuyết kinh Đại Tứ Niệm Xứ vẫn
còn một bia ký đánh dấu do vua Asoka (A Dục) thiết lập. Nơi
nầy ngày nay được chính phủ Ấn Độ bảo tồn với một công viên
bao bọc.
Tôn giả Ananda, thị giả chính thức của Đức Thế Tôn, là bậc
đa văn quảng kiến. Theo Sớ Giải Kinh Đại Duyên
(Mahānidānasutta), Trường Bộ, kinh số 15, thì Tôn giả đã
chiêm nghiệm giáo lý duyên khởi rất cặn kẽ sau khi nghe được
nhiều bài giảng của Đức Phật. Với niềm hoan hy đặc biệt đã
nói lên những lời nói tán thán sự thâm sâu của lý duyên
khởi.
Cũng theo Sớ Giải bài kinh trên thì có ba thứ trí là văn huệ
(Sutamayapaññā) hay trí tuệ do hấp thụ, tư huệ
(Cintāmayapaññā) hay trí tuệ do suy xét, tu huệ.
(Bhāvanāmayapaññā) hay trí tuệ do tu tập. Sự quán triệt lý
duyên khởi đối với hành thinh văn đệ tử Phật phải hội đủ cả
ba tức là hiểu biết qua sự giảng giải của bậc chánh đẳng
chánh giác; khéo suy nghiệm kết hợp những gì học hỏi với sự
quán sát thực tại; liễu tri thực tướng các pháp nên đọan tận
kiết sử. Trong trường hợp Tôn giả Ananda mặc dù được nghe từ
chính Đức Phật và suy nghiệm với kiến văn quảng bác nhưng
vẫn chưa đạt được quả viên giác vô sanh nên không thể gọi là
hoàn toàn liễu pháp.
Giáo lý duyên khởi với thí dụ về giòng hiện hữu của chúng
sanh trong đời như một đại thụ cành lá xum xuê. Nhìn thấy
cây từ một gốc cũng không đủ. Đi hết một vòng thì chỉ thấy
lá như không thấy được cành. Khi thấy được cành nhánh lớn
nhỏ của không hẳn là thấy được gốc rễ ăn sâu trong lòng đất.
Những chiều kích của cây đại thụ không thể thấy hết bằng mắt
hoặc hình dung do được thuyết minh còn nói gì tới khả năng
diệt sạch gốc rễ của cây khổng lồ mang tên đau khổ. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |