BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 02 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b) - Phẩm Cây (S.ii, 92).

CHUYỂN HOÁ BẢN THÂN MỚI ĐÚNG LÀ HIỂU BIẾT TRỌN VẸN.

Bài 60. Kinh Nhân Duyên (Nidānasuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Cuộc sống là thể hiện của bộ máy vô cùng tinh vi tế nhị mà Đức Phật gọi là duyên khởi. Trong ngôn từ diễn đạt, Bậc Đạo Sư đã chỉ cho hệ thống tác động từ vật chất đến tâm thức, từ thế giới nội tại đến ngoại tại, từ phiền não đến nghiệp quả. Chúng ta chỉ thật sự liễu tri duyên khởi khi chứng tri niết bàn, đoạn tận phiền não. Ngày nào còn kiết sử thì cái nhìn đối với cuộc sống hay tiến trình sanh tử vẫn như cái nhìn phiến diện đối với cội cây to lớn vượt tầm. Có những thứ trong cuộc đời nầy không thể quán triệt bằng ngôn ngữ và lý luận.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṃ nāma kurūnaṃ nigamo. Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Yāva gambhīro cāyaṃ, bhante, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca, atha ca pana me uttānakuttānako viya khāyatī’’ti.

‘‘Mā hevaṃ, ānanda, mā hevaṃ, ānanda ! Gambhīro cāyaṃ, ānanda, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca. Etassa, ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṃ pajā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā  muñjapabbajabhūtā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ saṃsāraṃ nātivattati.

Một thuở Đức Thế Tôn ngự giữa dân chúng Kuru, tại một thị trấn của người Kuru tên là Kammāsadamma (Kiều Sắt Đàm).

Bấy giờ Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên và bạch rằng:

-- Thật vi diệu thay, bạch Đức Thế Tôn! Thật tuyệt vời thay, bạch ĐứcThế Tôn! Bạch Thế Tôn, định lý duyên khởi thật sâu xa với những áo nghĩa thật tế nhị. Dù vậy đối với con thật trong sáng rõ ràng.

-- Chớ nói vậy, này Ānanda! Chớ nói vậy, này Ānanda! Sâu xa là định lý duyên khởi. Áo nghĩa thật tế nhị. Bởi vì không liễu tri và quán triệt pháp nầy nên chúng sanh như cuộn chỉ rối, bị đan kết như cỏ lau  như cỏ muñjā. Do vậy không thoát khỏi luân hồi trong khổ cảnh, ác thú, đoạ xứ.

‘‘Upādāniyesu, ānanda, dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā bhavo; bhavapaccayā jāti; jātipaccayā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

‘‘Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho. Tassa yāni ceva mūlāni adhogamāni, yāni ca tiriyaṅgamāni, sabbāni tāni uddhaṃ ojaṃ abhiharanti. Evañhi so, ānanda, mahārukkho tadāhāro tadupādāno ciraṃ dīghamaddhānaṃ tiṭṭheyya. Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu assādānupassino viharato taṇhā pavaḍḍhati. Taṇhāpaccayā upādānaṃ; upādānapaccayā bhavo...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.

-- Này Ānanda, khi một người sống trong sự miên man đối với vị ngọt của các pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do duyên ái nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.

-- Này Ānanda, ví như có một cây lớn với rễ ăn sâu xuống, ăn ngang đem lại nhựa sống cho cây. Được nuôi như vậy, được bồi dưỡng như vậy khiến cây có thể sống lâu dài. Cũng vậy,  khi một người sống trong sự miên man đối với vị ngọt của các pháp chấp thủ thì ái tăng thịnh; do duyên ái nên thủ tập khởi; do duyên thủ nên hữu tập khởi khởi; do duyên hữu nên sanh tập khởi; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai tập khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn tập khởi.

‘‘Upādāniyesu, ānanda, dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.

‘‘Seyyathāpi, ānanda, mahārukkho. Atha puriso āgaccheyya kuddālapiṭakaṃ ādāya. So taṃ rukkhaṃ mūle chindeyya, mūle chetvā palikhaṇeyya, palikhaṇitvā mūlāni uddhareyya antamaso usīranāḷimattānipi. So taṃ rukkhaṃ khaṇḍākhaṇḍikaṃ chindeyya. Khaṇḍākhaṇḍikaṃ chinditvā phāleyya; phāletvā sakalikaṃ sakalikaṃ kareyya, sakalikaṃ sakalikaṃ karitvā vātātape visoseyya, vātātape visosetvā agginā ḍaheyya, agginā ḍahetvā masiṃ kareyya, masiṃ karitvā mahāvāte vā ophuṇeyya, nadiyā vā sīghasotāya pavāheyya. Evañhi so, ānanda, mahārukkho ucchinnamūlo assa tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṃ anuppādadhammo. Evameva kho, ānanda, upādāniyesu dhammesu ādīnavānupassino viharato taṇhā nirujjhati. Taṇhānirodhā upādānanirodho; upādānanirodhā bhavanirodho; bhavanirodhā jātinirodho; jātinirodhā jarāmaraṇaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti. Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. Dasamaṃ.

-- Này Ānanda, khi một người sống trong sự suy tư đối với những nguy hiểm của những pháp chấp thủ thì ái diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên hữu diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.

-- Này Ānanda, ví như có một cây lớn. Rồi một người cầm cuốc và giỏ đến. Người ấy đốn cây và đào gốc rễ lên. Người ấy bứng lên lên rễ cái, rễ con, rễ phụ. Người ấy chặt cây thành từng khúc gỗ; rồi bửa ra thành củi, thành những miếng nhỏ. Sau đó đem phơi nắng và chụm lửa. Khi củi cháy thành tro người ấy rãi tro theo gió hay theo giòng sông. Cây lớn đã bị đống, với tất cả rễ bị đào bứng lên không thể sống lại như cây cây kè bị chặt ngọn, không thể hồi sinh ở tương lai.

Này Ānanda, tương tự như vậy khi một người sống trong sự suy tư đối với những nguy hiểm của những pháp chấp thủ thì ái diệt; do duyên ái diệt nên thủ diệt; do duyên thủ nên hữu diệt khởi; do duyên hữu nên sanh diệt; do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, ai diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt.

Chú Thích

Kuru là một trong 16 quốc độ (mahājanapada) trong châu thổ Sông Hằng thời Đức Phật tại thế. Ngày nay vùng đất nầy bao gồm cả thủ đô New Delhi của Ấn Độ. Tình hình chính trị của xứ Kuru được ghi nhận lúc kinh điển kết tập tương đối ổn định và bình hoà. Đặc điểm là dân chúng xứ nầy rất có thiện duyên tu tập thiền quán. Nhiều bài kinh quan trọng dạy về tứ niệm xứ được Đức Phật thuyết giảng ở Kuru.

 Kammāsadamma (Kiều Sắt Đàm).là tên một thị trấn trong xứ Kuru nơi Đức Thế Tôn ngự đến nhiều lần.  Tại chính nơi Đức Phật thuyết kinh Đại Tứ Niệm Xứ vẫn còn một bia ký đánh dấu do vua Asoka (A Dục) thiết lập. Nơi nầy ngày nay được chính phủ Ấn Độ bảo tồn với một công viên bao bọc.

Tôn giả Ananda, thị giả chính thức của Đức Thế Tôn, là bậc đa văn quảng kiến. Theo Sớ Giải Kinh Đại Duyên (Mahānidānasutta), Trường Bộ, kinh số 15, thì Tôn giả đã chiêm nghiệm giáo lý duyên khởi rất cặn kẽ sau khi nghe được nhiều bài giảng của Đức Phật. Với niềm hoan hy đặc biệt đã nói lên những lời nói tán thán sự thâm sâu của lý duyên khởi.

Cũng theo Sớ Giải bài kinh trên thì có ba thứ trí là văn huệ (Sutamayapaññā) hay trí tuệ do hấp thụ, tư huệ (Cintāmayapaññā) hay trí tuệ do suy xét, tu huệ. (Bhāvanāmayapaññā) hay trí tuệ do tu tập. Sự quán triệt lý duyên khởi đối với hành thinh văn đệ tử Phật phải hội đủ cả ba tức là hiểu biết qua sự giảng giải của bậc chánh đẳng chánh giác; khéo suy nghiệm kết hợp những gì học hỏi với sự quán sát thực tại; liễu tri thực tướng các pháp nên đọan tận kiết sử. Trong trường hợp Tôn giả Ananda mặc dù được nghe từ chính Đức Phật và suy nghiệm với kiến văn quảng bác nhưng vẫn chưa đạt được quả viên giác vô sanh nên không thể gọi là hoàn toàn liễu pháp.

Giáo lý duyên khởi với thí dụ về giòng hiện hữu của chúng sanh trong đời như một đại thụ cành lá xum xuê. Nhìn thấy cây từ một gốc cũng không đủ. Đi hết một vòng thì chỉ thấy lá như không thấy được cành. Khi thấy được cành nhánh lớn nhỏ của không hẳn là thấy được gốc rễ ăn sâu trong lòng đất. Những chiều kích của cây đại thụ không thể thấy hết bằng mắt hoặc hình dung do được thuyết minh còn nói gì tới khả năng diệt sạch gốc rễ của cây khổng lồ mang tên đau khổ.

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-