|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 03 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
CHẤP THÂN, CHẤP TÂM. Bài 61. Kinh Không Học Hiểu (Assutavāsuttaṃ).
Chấp thủ là điều không tránh khỏi đối với phàm nhân. Chấp
thủ đến từ không hiểu biết. Chấp thân xác là bản ngã thế mà
dễ có cơ hội tháo gỡ vì tương đối dễ dàng để thấy sự biến
hoại của thân xác. Chấp thủ tâm thức, hay linh hồn, thế mà
khó buông bỏ vì trừu tượng và vượt khỏi tầm nhìn của phàm
phu. Chấp thủ nào cũng là chấp thủ. Có học hiểu lý duyên
khởi thì mới thấy đường dù vật chất hay tâm thức chỉ là
giòng hiện hữu tác động bởi nhân duyên.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme...pe... ‘‘assutavā,
bhikkhave, puthujjano imasmiṃ cātumahābhūtikasmiṃ kāyasmiṃ
nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi. Taṃ kissa hetu?
Dissati, bhikkhave, imassa cātumahābhūtikassa kāyassa
ācayopi apacayopi ādānampi nikkhepanampi. Tasmā tatrāssutavā
puthujjano nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi’’.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở
Đức
Thế Tôn
ngự ở
Sāvatthi,
tại
Jetavana,
khu
vườn ông Anāthapiṇḍika
(dâng cúng).
-- Này
chư Tỳ khưu,
phàm nhân không có học hiểu
có thể nhàm chán, viễn ly,
không vưóng mắc với
thân
nầy vốn do tứ
đại tạo thành.
Vì sao
vậy?
Này chư Tỳ khưu, vì họ thấy được cái thân nầy vốn do tứ đại
tạo thành
có tăng trưởng, có suy giảm, có nắm giữ, có quăng bỏ.
Do vậy, ở đây phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán,
viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại tạo
thành.
‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano
itipi, viññāṇaṃ itipi, tatrāssutavā puthujjano nālaṃ
nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ. Taṃ kissa
hetu? Dīgharattañhetaṃ, bhikkhave, assutavato puthujjanassa
ajjhositaṃ mamāyitaṃ parāmaṭṭhaṃ – ‘etaṃ mama, esohamasmi,
eso me attā’ti. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nālaṃ
nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
thế nhưng
ở đây
đối với
cái gọi là tâm, là ý, là thức,
kẻ vô văn phàm phu không có thể nhàm chán,
không có thể
viễn ly,
không có thể
không vưóng mắc.
Vì sao
vậy?
Này chư Tỳ khưu, Ðã lâu ngày,
vì lâu đời
kẻ vô văn phàm phu đắm
nhiễm, định kiến, chấp thủ: “Đây là của ta, đây là ta, đây
là tự ngã của ta”.
Do vậy, phàm nhân không có học hiểu không có thể nhàm chán,
không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc
đối với tâm thức
.
‘‘Varaṃ, bhikkhave, assutavā puthujjano imaṃ
cātumahābhūtikaṃ kāyaṃ attato upagaccheyya, na tveva cittaṃ.
Taṃ kissa hetu? Dissatāyaṃ, bhikkhave, cātumahābhūtiko kāyo
ekampi vassaṃ tiṭṭhamāno dvepi vassāni tiṭṭhamāno tīṇipi
vassāni tiṭṭhamāno cattāripi vassāni tiṭṭhamāno pañcapi
vassāni tiṭṭhamāno dasapi vassāni tiṭṭhamāno vīsatipi
vassāni tiṭṭhamāno tiṃsampi vassāni tiṭṭhamāno cattārīsampi
vassāni tiṭṭhamāno paññāsampi vassāni tiṭṭhamāno
vassasatampi tiṭṭhamāno, bhiyyopi tiṭṭhamāno.
‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano
itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva
uppajjati aññaṃ nirujjhati. Seyyathāpi, bhikkhave, makkaṭo
araññe pavane caramāno sākhaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ
gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati; evameva kho, bhikkhave,
yamidaṃ vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi,
taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ
nirujjhati.
-- Này chư Tỳ khưu, thật tốt hơn cho phàm nhân không có học
hiểu
chấp ngã đối với
thân do
tứ
đại tạo thành hơn là đối với tâm.
Vì
sao vậy
? Này chư Tỳ khưu, thân do bốn
đại tạo thành này được thấy tồn tại
một năm, tồn tại
hai năm, tồn tại
ba năm, tồn tại
bốn năm, tồn tạ
inăm năm, tồn tại
mười năm, tồn tại
hai mươi năm, tồn tại
ba mươi năm, tồn tại
bốn mươi năm, tồn tại
năm mươi năm, tồn tại
một trăm năm,
thậm chí nhiều hơn.
Này chư Tỳ khưu,
còn
cái gọi là tâm này, là ý này, là
thức này,
ngày đêm
sanh
khởi là khác, diệt đi là khác.
Này chư Tỳ khưu, giống như con khỉ đi lại trong rừng buông
cành cây nầy, chụp nhánh cây kia rồi buông nhánh cây kia để
chụp nhành cây khác, cái gọi là tâm này, là ý này, là thức
này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác.
‘‘Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako paṭiccasamuppādaṃyeva
sādhukaṃ yoniso manasi karoti – ‘iti imasmiṃ sati idaṃ hoti,
imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na hoti,
imassa nirodhā idaṃ nirujjhati – yadidaṃ avijjāpaccayā
saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ...pe... evametassa
kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva
asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā
viññāṇanirodho...pe... evametassa kevalassa
dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu, ở
đây vị thánh đệ tử có học hiểu khéo suy tư quán sát lý duyên
khởi: “Do cái nầy có nên cái kia có. Do cái nầy sanh nên cái
kia sanh. Do cái nầy không có nên cái kia không có. Do cái
nầy diệt nên cái kia diệt”. Do duyên vô minh nên hành tập
khởi, do duyên hành thức tập khởi…. như vậy là sự tập khởi
của toàn bộ khổ uẩn. Nhưng với sự đoạn diệt tan biến hoàn
toàn vô minh nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt…Như vậy
là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.
‘‘Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi
nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati,
saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati; nibbindaṃ
virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti. Paṭhamaṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
vị thánh đệ tử có học hiểu nhận thức như vậy nên
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối
với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với
thức. Do nhàm chán nên
ly
tham;
do
ly tham
nên giải thoát.
Khi
giải thoát, tuệ
tri:
"Đã giải thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái
này nữa".
Chú Thích
Cụm từ assutavā puthujjana,
thường được dịch là kẻ vô văn phàm phu chỉ cho phàm nhân
không có học hiểu chánh pháp. Theo Sớ giải chữ puthu trong
puthujjana nghĩa là “được tính là tách biệt” có nghĩa là
khác biệt đối với các bậc có học, có tu . (puthu vā ayaṃ
visuṃ yeva saṅkhaṃ gato; visaṃsaṭṭho sīlasutādiguṇayuttehi
ariyehi jano ti puthujjano). Trên phương diện ngữ cảnh thì
chữ puthujjana chỉ cho phàm nhân thuộc phần đông con người.
Mệnh đề cittaṃ iti pi mano iti pi viññāṇaṃ iti pi – cái gọi
là tâm, cái gọi là ý, cái gọi là thức – là câu cần nhiều
luận giải. Tâm (citta), ý (mana), thức (viññāna) có thể hiểu
chung tâm thức đối lập với vật chất. Nhưng trong cách dụng
tinh nghĩa thi tâm chỉ cho tri giác đối lập với thân; ý chỉ
cho tư duy trong liệt kê hành động, ngôn từ, ý nghĩ mà cũng
là thức thứ sáu trong liệt kê sáu giác quan: thị giác, thính
giác, khứu giác. Thức được hiểu là sự biết cảnh của các giác
quan như trong năm uẩn. Sự đồng nghĩa và cách dùng có phân
biệt của ba thuật ngữ nấy đòi hỏi kiến thức sâu rộng trong
Phật học, đặc biệt là Thắng Pháp.
Theo Sớ Giải thì ba từ vựng ajjhosita - đắm nhiễm, mamāyita
– đặt để, parāmaṭṭha
- chấp thủ - chỉ cho ba kiến chấp đây là của tôi (etaṃ mama)
thuộc ái chấp (taṇhāgāha); đây là tôi (eso ’ham asmi) thuộc
mạn chấp (mānagāha); đây là tự ngã của tôi (eso me attā)
thuộc kiến chấp (diṭṭhigāha).\
Theo Sớ Giải thì khi Đức Phật dạy “thân nầy có thể tồn tại
một năm, có thể tồn tại hai năm…” là nói theo cái nhìn chung
thông thường không có nghĩa là thân xác giữ nguyên trạng từ
ngày nầy qua ngà kia.
Thành ngữ rattiyā ca divasassa – hết ngày lại đêm – mang ý
nghĩa là sự liên tục không ngừng nghỉ. Trong khoảnh khắc
sanh diệt tâm ý đã thay đổi mà điều nầy phàm nhân khó thấy.
Theo Sớ Giải thì Đức Phật giảng kinh nầy cho nhóm tỳ khưu
nặng ái chấp thân xác. Nhưng sau khi nghe đoạn đầu thì các
vị chuyển sang chấp thủ tâm thức. Do vậy Đức Phật đã giảng
tiếp về sự sai lầm của chấp thủ tâm ý là tự ngã. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |