BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 03 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c) - Đại Phẩm Thứ Bảy (Tạp 12.7 Vô Văn, Đại 2, 81c).

CHẤP THÂN, CHẤP TÂM.

Bài 61. Kinh Không Học Hiểu (Assutavāsuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

 

Chấp thủ là điều không tránh khỏi đối với phàm nhân. Chấp thủ đến từ không hiểu biết. Chấp thân xác là bản ngã thế mà dễ có cơ hội tháo gỡ vì tương đối dễ dàng để thấy sự biến hoại của thân xác. Chấp thủ tâm thức, hay linh hồn, thế mà khó buông bỏ vì trừu tượng và vượt khỏi tầm nhìn của phàm phu. Chấp thủ nào cũng là chấp thủ. Có học hiểu lý duyên khởi thì mới thấy đường dù vật chất hay tâm thức chỉ là giòng hiện hữu tác động bởi nhân duyên.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme...pe... ‘‘assutavā, bhikkhave, puthujjano imasmiṃ cātumahābhūtikasmiṃ kāyasmiṃ nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi. Taṃ kissa hetu? Dissati, bhikkhave, imassa cātumahābhūtikassa kāyassa ācayopi apacayopi ādānampi nikkhepanampi. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi’’.

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika (dâng cúng).

-- Này chư Tỳ khưu, phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán, viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại tạo thành.

Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, vì họ thấy được cái thân nầy vốn do tứ đại tạo thành có tăng trưởng, có suy giảm, có nắm giữ, có quăng bỏ.

Do vậy, ở đây phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán, viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại tạo thành.

‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, tatrāssutavā puthujjano nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ. Taṃ kissa hetu? Dīgharattañhetaṃ, bhikkhave, assutavato puthujjanassa ajjhositaṃ mamāyitaṃ parāmaṭṭhaṃ – ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ.

-- Này chư Tỳ khưu, thế nhưng ở đây đối với cái gọi là tâm, là ý, là thức,  kẻ vô văn phàm phu không có thể nhàm chán, không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc.

Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, Ðã lâu ngày, vì lâu đời kẻ vô văn phàm phu đắm nhiễm, định kiến, chấp thủ: “Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta”.

Do vậy, phàm nhân không có học hiểu không có thể nhàm chán, không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc đối với tâm thức .

‘‘Varaṃ, bhikkhave, assutavā puthujjano imaṃ cātumahābhūtikaṃ kāyaṃ attato upagaccheyya, na tveva cittaṃ. Taṃ kissa hetu? Dissatāyaṃ, bhikkhave, cātumahābhūtiko kāyo ekampi vassaṃ tiṭṭhamāno dvepi vassāni tiṭṭhamāno tīṇipi vassāni tiṭṭhamāno cattāripi vassāni tiṭṭhamāno pañcapi vassāni tiṭṭhamāno dasapi vassāni tiṭṭhamāno vīsatipi vassāni tiṭṭhamāno tiṃsampi vassāni tiṭṭhamāno cattārīsampi vassāni tiṭṭhamāno paññāsampi vassāni tiṭṭhamāno vassasatampi tiṭṭhamāno, bhiyyopi tiṭṭhamāno.

‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ nirujjhati. Seyyathāpi, bhikkhave, makkaṭo araññe pavane caramāno sākhaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati; evameva kho, bhikkhave, yamidaṃ vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ nirujjhati.

-- Này chư Tỳ khưu, thật tốt hơn cho phàm nhân không có học hiểu chấp ngã đối với thân do tứ đại tạo thành hơn là đối với tâm.

Vì sao vậy ? Này chư Tỳ khưu, thân do bốn đại tạo thành này được thấy tồn tại một năm, tồn tại hai năm, tồn tại ba năm, tồn tại bốn năm, tồn tạ inăm năm, tồn tại mười năm, tồn tại hai mươi năm, tồn tại ba mươi năm, tồn tại bốn mươi năm, tồn tại năm mươi năm, tồn tại một trăm năm, thậm chí nhiều hơn. Này chư Tỳ khưu, còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác. Này chư Tỳ khưu, giống như con khỉ đi lại trong rừng buông cành cây nầy, chụp nhánh cây kia rồi buông nhánh cây kia để chụp nhành cây khác, cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác.

‘‘Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako paṭiccasamuppādaṃyeva sādhukaṃ yoniso manasi karoti – ‘iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhati – yadidaṃ avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṃ...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’’ti.

-- Này chư Tỳ khưu, ở đây vị thánh đệ tử có học hiểu khéo suy tư quán sát lý duyên khởi: “Do cái nầy có nên cái kia có. Do cái nầy sanh nên cái kia sanh. Do cái nầy không có nên cái kia không có. Do cái nầy diệt nên cái kia diệt”. Do duyên vô minh nên hành tập khởi, do duyên hành thức tập khởi…. như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn. Nhưng với sự đoạn diệt tan biến hoàn toàn vô minh nên hành diệt, hành diệt nên thức diệt…Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn.

‘‘Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati; nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti. Paṭhamaṃ.

-- Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu nhận thức như vậy nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham  nên giải thoát. Khi  giải thoát, tuệ tri: "Đã giải thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

Chú Thích

Cụm từ assutavā puthujjana, thường được dịch là kẻ vô văn phàm phu chỉ cho phàm nhân không có học hiểu chánh pháp. Theo Sớ giải chữ puthu trong puthujjana nghĩa là “được tính là tách biệt” có nghĩa là khác biệt đối với các bậc có học, có tu . (puthu vā ayaṃ visuṃ yeva saṅkhaṃ gato; visaṃsaṭṭho sīlasutādiguṇayuttehi ariyehi jano ti puthujjano). Trên phương diện ngữ cảnh thì chữ puthujjana chỉ cho phàm nhân thuộc phần đông con người.

Mệnh đề cittaṃ iti pi mano iti pi viññāṇaṃ iti pi – cái gọi là tâm, cái gọi là ý, cái gọi là thức – là câu cần nhiều luận giải. Tâm (citta), ý (mana), thức (viññāna) có thể hiểu chung tâm thức đối lập với vật chất. Nhưng trong cách dụng tinh nghĩa thi tâm chỉ cho tri giác đối lập với thân; ý chỉ cho tư duy trong liệt kê hành động, ngôn từ, ý nghĩ mà cũng là thức thứ sáu trong liệt kê sáu giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác. Thức được hiểu là sự biết cảnh của các giác quan như trong năm uẩn. Sự đồng nghĩa và cách dùng có phân biệt của ba thuật ngữ nấy đòi hỏi kiến thức sâu rộng trong Phật học, đặc biệt là Thắng Pháp.

Theo Sớ Giải thì ba từ vựng ajjhosita - đắm nhiễm, mamāyita – đặt để,  parāmaṭṭha - chấp thủ - chỉ cho ba kiến chấp đây là của tôi (etaṃ mama) thuộc ái chấp (taṇhāgāha); đây là tôi (eso ’ham asmi) thuộc mạn chấp (mānagāha); đây là tự ngã của tôi (eso me attā) thuộc kiến chấp (diṭṭhigāha).\

Theo Sớ Giải thì khi Đức Phật dạy “thân nầy có thể tồn tại một năm, có thể tồn tại hai năm…” là nói theo cái nhìn chung thông thường không có nghĩa là thân xác giữ nguyên trạng từ ngày nầy qua ngà kia.

Thành ngữ rattiyā ca divasassa – hết ngày lại đêm – mang ý nghĩa là sự liên tục không ngừng nghỉ. Trong khoảnh khắc sanh diệt tâm ý đã thay đổi mà điều nầy phàm nhân khó thấy.

Theo Sớ Giải thì Đức Phật giảng kinh nầy cho nhóm tỳ khưu nặng ái chấp thân xác. Nhưng sau khi nghe đoạn đầu thì các vị chuyển sang chấp thủ tâm thức. Do vậy Đức Phật đã giảng tiếp về sự sai lầm của chấp thủ tâm ý là tự ngã.

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-