BÀI HỌC HẰNG NGÀY

Thứ Năm, 04 tháng 05, 2023

MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ

X. PHẨM HÌNH CỤ (Daṇḍavagga)

Gồm 17 bài kệ với 11 duyên sự


 - Kệ số 9 đến 12 (dhp 137_140)
 

(pc 137)

9. Dùng hình cụ hại người
vô hại và vô tội
tức thì phải lãnh chịu
một trong mười biến cố.

(pc 138)

10. Bị cảm thọ đau đớn,
bị thiệt hại, thương tật,
bị mang bệnh, trầm trọng,
bị tâm thần bấn loạn.

(pc 139)

11. Bị tội vạ từ vua,
bị vu oan giá hoạ,
bị phân ly quyến thuộc,
bị tiêu hao tài sản.

(pc 140)

12. Cửa nhà lửa hoả thiêu
khi thân hoại mạng chung
kẻ dại dột thiếu trí
tái sanh vào khổ cảnh.

Duyên sự:

Bốn bài kệ nầy đức Phật thuyết khi Ngài ngự tại Veḷuvana gần thành Rājagaha, do chuyện viên tịch của tôn giả Mahāmoggallāna.

Tôn giả Mahāmoggallāna là đệ nhị thượng thủ thinh văn của Đức Thế Tôn, tôn giả là vị đệ nhất thần thông trong hàng thinh văn.

Tôn giả từng ngự lên cõi trời hỏi chư thiên về phước nghiệp họ đã làm và được sanh thiên, rồi tôn giả thuyết pháp cho dân chúng nghe quả báo thiện nghiệp. Tôn giả cũng từng dùng thần thông đi đến cõi địa ngục ngạ quỉ và hỏi chúng đã tạo nghiệp ác gì mà sanh khổ cảnh, rồi tôn giả về nhân gian thuyết pháp cho dân chúng nghe để họ không làm ác. Thời đó, các cư sĩ nghe pháp đa phần họ khởi niềm tin Phật giáo, qui y tam bảo và cúng dường lợi lộc đến chư tỳ kheo dồi dào; Ngoại đạo thì ít được quần chúng tín ngưỡng và cúng dường.

Bọn ngoại đạo căm tức và tìm cách sát hại trưởng lão Mahāmoggallāna. Họ bỏ tiền lớn để thuê một đám cướp tàn ác tìm đến chỗ trú ngụ của trưởng lão và giết Ngài.

Trong ba tháng, bọn cướp bao vây mà không giết được trưởng lão vì Ngài dùng thần thông ẩn thân. Cuối cùng trưởng lão quán xét quả ác nghiệp quá khứ đã chín muồi nên Ngài không tránh nữa. Bọn cướp bắt trưởng lão và đập chết Ngài, vứt xác sau bụi rậm rồi bỏ đi.

Trưởng lão Mahāmoggallāna dùng thần lực thiền định duy trì mạng sống, nghĩ rằng: “sẽ diện kiến bậc Đạo Sư rồi níp bàn”. Trưởng lão dùng thần thông hoàn xác lại nguyên vẹn và bay về chỗ Đức Thế Tôn, trưởng lão xin phép: “Bạch Thế Tôn, con sẽ níp bàn”.

Đức Phật hỏi: “Moggallāna, ngươi sẽ viên tịch ở đâu?”, Trưởng lão đáp: “Bạch Thế Tôn, con sẽ viên tịch ở vùng Kāḷasilā”.

Đức Phật bảo: “Một vị thinh văn như ngươi, nay ta không gặp được nữa, vậy ngươi hãy thuyết pháp của ta cho chúng tỳ kheo lần cuối”.

Trưởng lão Moggallāna vâng lệnh Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và bay lên hư không ngồi thuyết pháp cho chúng tỳ kheo xong. Trưởng lão đảnh lễ đức Phật lần nữa rồi biến mất, hiện ra tại vùng Kāḷasilā và viên tịch ở đấy.

Tin trưởng lão Mahāmoggallāna viên tịch do bị bọn cướp sát hại đã truyền đi khắp nơi, đức vua Ajātasattu lệnh cho mật thám truy bắt bọn cướp sát nhân.

Bọn cướp sau khi giết trưởng lão, nhận tiền thưởng từ nhóm ngoại đạo loã thể, chúng tụ họp ăn nhậu trong một quán rượu, lúc ngà say, chúng lớn tiếng cãi nhau tranh công đã giết trưởng lão Moggallāna. Các mật thám của vua bắt hết bọn cướp giải về phục lệnh vua.

Đức vua tra hỏi, bọn cướp khai báo đã nhận tiền thưởng từ các sa môn loã thể để giết trưởng lão Moggallāna.

Vua bèn ra lệnh bắt đám ngoại đạo lão thể hành hình chung với bọn cướp.

Vua cho đào hố chôn sống chúng chừa phần đầu trên mặt đất, phủ rơm lên thiêu sống, và dùng cày sắt cày qua cày lại khiến đầu lìa, thi thể bị xé nát từng mảnh.

Dân chúng mục kích cảnh hành hình đám sa môn loã thể và bọn cướp, họ kháo chuyện với nhau, chư tỳ kheo vào thành khất thực nghe được chuyện ấy về chùa bạch với đức Phật và hỏi Ngài tiền nghiệp của trưởng lão Moggallāna.

Đức Phật dạy rằng: kiếp hiện tại Moggallāna đã có cái chết không tương xứng, nhưng tương xứng với ác nghiệp đã làm trong quá khứ. Rồi Đức Thế Tôn nhắc lại tiền kiếp của trưởng lão Moggallāna là một thanh niên do nghe lời xúi giục của vợ mà nhẫn tâm sát hại cha mẹ già mù loà để cô vợ không khổ sở hầu hạ. Thanh niên ấy chết sanh địa ngục trong thời gian dài; quả dư sót khi sanh làm người bị sát hại thi thể không vẹn toàn như thế. Đức Phật thuyết tiếp số phận của các tu sĩ loã thể và bọn cướp đã làm hại người vô hại là bậc A la hán nên đã phải chịu hậu quả chết thảm khốc như thế. Kẻ sát hại bậc thánh nhân thanh tịnh phải thọ một trong mười điều khổ.

Rồi Đức Thế Tôn đã nói lên bốn bài kệ: “Yo daṇḍena adandesu ..v.v..”.

Cuối pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo đắc thánh quả.

Chánh văn:     

 (dhp 137)

9. Yo daṇḍena adaṇḍesu
appaduṭṭhesu dussati
dasannaṃ aññataraṃ ṭhānaṃ
khippam_eva nigacchati.

(dhp 138)

10. Vedanaṃ pharusaṃ jāniṃ
sarīrassa ca bhedanaṃ
garukaṃ vā ’pi ābādhaṃ
cittakkhepaṃ va pāpuṇe.

(dhp 139)

11. Rājato vā upasaggaṃ
abbhakkhānaṃ va dāruṇaṃ
parikkhayaṃ va ñātīnaṃ
bhogānaṃ va pabhaṅguraṃ.

(dhp 140)

12. Atha v ’āssa agārāni
aggi ḍahati pāvako
kāyassa bhedā duppañño
nirayaṃ so ’papajjati.

Thích văn:

yo [chủ cách số ít nam tính của quan hệ đại từ ya] ai, người nào.
daṇḍena [sở dụng cách số ít của danh từ nam tính daṇḍa] hình cụ, với gậy gộc, dùng đao trượng.
adaṇḍesu [định sở cách số nhiều của hợp thể quan hệ đại từ adaṇḍa (natthi daṇḍo yassa so adaṇḍo, ở người nào không có khí giới, người ấy là người vô hại hay người tay không tất sắt)] đối với những người hiền lành, đối với những người vô hại.
appaduṭṭhesu [định sở cách số nhiều của hợp thể tính từ appaduṭṭha (a + paduṭṭha)] đối với những người không ô nhiễm, những người vô tội.
dussati [động từ tiến hành cách ngôi III số ít “căn dus + ya”] hãm hại, gây thiệt hại.
dasannaṃ [sở thuộc cách số nhiều của số mục tính từ dasa] của mười, trong mười.
aññataraṃ [đối cách số ít của phiếm chỉ đại từ aññatara] điều nào đó. Câu “dasannaṃ aññataraṃ” nghĩa là “điều nào trong mười điều”.
ṭhānaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính ṭhāna] sự kiện, trường hợp, cảnh ngộ.
khippam_eva [hợp âm khippaṃ eva]
khippaṃ [trạng từ] một cách nhanh chóng, một cáh mau lẹ. “Khippam_eva = tức thì, lập tức”.
nigacchati [động từ tiến hành cách, ngôi III số ít “ni + căn gam + a”] đi đến, rơi vào, lãnh chịu, bị.
vedanaṃ [đối cách số ít của danh từ nữ tính vedanā] cảm thọ, cảm giác.
pharusaṃ [đối cách số ít nữ tính của tính từ pharusa] thảm khốc, khốc liệt.
jāniṃ [đối cách số ít của danh từ nữ tính jāni] sự tổn thất, sự thiệt hại, sự mất mát.
sarīrassa [chỉ định cách số ít của danh từ trung tính sarīra] đối với thân thể, đối với thể xác.
bhedanaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính bhedana] sự bể vỡ, sự tan rã, sự xé nát.
garukaṃ [đối cách số ít của tính từ garuka] nặng nề, trầm trọng.
ābādhaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính ābādha] bệnh tật, chứng bệnh.
cittakkhepaṃ [đối cách số ít nam tính của hợp thể danh từ cittakkhepa (citta + khepa)] loạn tâm, bệnh tâm thần.
pāpuṇe [động từ khả năng cách ngôi III số ít, hình thức attanopada_(pa + āp + uṇā)] có thể đạt tới, phải gánh chịu.
rājato [xuất xứ cách với tiếp vĩ ngữ to. rāja (nam tính) + to (tiếp vĩ ngữ)] từ nhà vua.
upasaggaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính upasagga] tai vạ, tội vạ, sự kết án.
abbhakkhānaṃ [đối cách số ít của danh từ trung tính abbhakkhāna] sự vu cáo, sự vu khống, sự cáo buộc.
dāruṇaṃ [đối cách số ít trung tính của tính từ dāruṇa] nghiêm trọng, dữ dội, trọng tội.
parikkhayaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính parikkhaya] sự mất mát, sự phân ly.
va [hình thức giản lược của liên từ “vā”] hoặc là, hay là.
ñātīnaṃ [chỉ định cách số nhiều của danh từ nam tính ñāti] thân nhân, quyến thuộc, thân quyến.
bhogānaṃ [chỉ định cách số nhiều của danh từ nam tính bhoga] tài sản, của cải
pabhaṅguraṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính pabhaṅgura] tan nát, tiêu tán, mỏng manh.
atha v’āssa [hợp âm athā vā assa]
athā vā [liên từ] hoặc là.
assa [sở thuộc cách số ít nam tính của chỉ thị đại từ ima] của người nầy, của nó.
agārāni [đối cách số nhiều của danh từ trung tính agāra] các ngôi nhà, nhà cửa.
aggi [chủ cách số ít của danh từ nam tính aggi] lửa.
ḍahati [động từ tiến hành cách ngôi III số ít “căn ḍah + a”] đốt cháy, thiêu cháy.
pāvako [chủ cách số ít của danh từ nam tính pāvaka] hoả, lửa.
kāyassa [chỉ định cách số ít của danh từ nam tính kāya] đối với thân, thân thể.
bhedā [xuất xứ cách số ít của danh từ nam tính bheda] sự hoại, sự tan rã.
duppañño [xuất xứ cách số ít của danh từ nam tính duppañña (du + paññā + ṇa)] người không có trí, kẻ thiếu trí, kẻ rồ dại.
nirayaṃ [đối cách số ít của danh từ nam tính niraya (nira + aya)] khổ cảnh, cõi không có sự an lạc; địa ngục.
so ’papajjati [hợp âm so uppajjati]
so [chủ cách số ít nam tính của chỉ thị đại từ ta] nó, kẻ ấy, người ấy.
upapajjati [động từ tiến hành cách ngôi III số ít “upa + căn pad + ya”] sanh vào, tái sanh.

Việt văn:

(pc 137)

9. Dùng hình cụ hại người
vô hại và vô tội
tức thì phải lãnh chịu
một trong mười biến cố.

(pc 138)

10. Bị cảm thọ đau đớn,
bị thiệt hại, thương tật,
bị mang bệnh, trầm trọng,
bị tâm thần bấn loạn.

(pc 139)

11. Bị tội vạ từ vua,
bị vu oan giá hoạ,
bị phân ly quyến thuộc,
bị tiêu hao tài sản.

(pc 140)

12. Cửa nhà lửa hoả thiêu
khi thân hoại mạng chung
kẻ dại dột thiếu trí
tái sanh vào khổ cảnh.

Chuyển văn:

Yo adaṇḍesu appaduṭṭhesu daṇḍena dussati dasannaṃ aññataraṃ ṭhānaṃ khippameva nigacchati: pharusaṃ vedanaṃ, jāniṃ, sarīrassa bhedanaṃ vā, api garukaṃ ābādhaṃ vā, cittakkhepaṃ pāpuṇe vā, rājato upasaggaṃ vā, dāruṇaṃ abbhakkhānaṃ vā, ñātīnaṃ parikkhayaṃ vā, bhogānaṃ pabhaṅguraṃ vā, athavā assa agārāni pāvako aggi ḍahati.

So duppañño kāyassa bhedā nirayaṃ upapajjati.

Kẻ nào dùng hình cụ ám hại người không đao trượng, không lỗi lầm, tức thì nó sẽ lãnh chịu một điều nào trong mười điều: Bị cảm thọ khốc liệt, hoặc bị thiệt hại, hoặc bị thương tật thân thể, hoặc bị mang bệnh nặng nề, hoặc cuồng tâm loạn trí, hay bị tại vạ từ vua, hoặc bị vu khống trọng tội, hay bị phân ly thân quyến hoặc bị tiêu hao tài sản, hay bị hoả hoạn thiêu rụi nhà cửa, kẻ rồ dại ấy khi thân hoại mạng chung sẽ tái sanh vào khổ cảnh.

Lý giải:

Người không đao trượng (adaṇḍa) là người trong tay không cầm khí giới (gậy trượng, đao kiếm…), không có tấc sắt tự vệ.

Người không lỗi lầm (appaduṭṭha) là người không còn ô nhiễm bởi phiền não.

Người không đao trượng, không lỗi lầm là ám chỉ bậc Lậu tận A la hán (khīṇāsavo arahaṃ)

Kẻ nào (yo) là chỉ cho người thiếu trí, không có trí tuệ (nippañño, duppañño).

Kẻ ngu si ấy sát hại bậc thánh nhân như vậy, tức thì sẽ lãnh chịu một điều nào trong mười điều, nghĩa là ngay trong hiện tại nó sẽ bị quả báo nhãn tiền bị một trong mười biến cố nầy (diṭṭheva dhamme imesaṃ dasannaṃ ṭhānānaṃ aññataraṃ papuṇāti).

Mười biến cố xảy ra tức thì cho kẻ sát hại bậc thánh nhân, đó là:

Cảm thọ đau đớn (pharusaṃ vedanaṃ) là thân thọ khổ bất an như nhức đầu, đau bụng ..v.v..

Bị thiệt hại (jāniṃ) là tổn thất tiền của đã khó khăn kiếm được.

Bị thương tật (sarīrabhedanaṃ) là thân thể bị tổn thương, như bị chặt tay, chặt chân, xẻo mũi ..v.v..

Bị mang bệnh trầm trọng (garukābādhaṃ) như mắc phải những chứng bệnh ngặt nghèo, bệnh nan y ..v.v...

Bị tâm thần bấn loạn (cittakkhepaṃ) là khùng điên.

Bị tội vạ từ vua (rājato upasaggaṃ) là thất sủng, như bị vua tước quyền, cách chức, bãi nhiệm ..v.v..

Bị vu oan giá hoạ (dāruṇaṃ abbhakkhānaṃ) là bị vu khống tội trộm cướp, giết người, phản vua hại chúa … những chuyện đó nó không có làm, người ta vu khống giá hoạ cho.

Bị phân ly thân quyến (ñātīnaṃ parikkhayaṃ) là bị chia lìa thân nhân có thể làm chỗ nương dựa cho mình.

Bị tiêu hao tài sản (bhogānaṃ pabhaṅguraṃ) là hư hoại mất mát, như ruộng lúa thất mùa, vườn rẩy bị sâu bọ, tiền bạc bị cướp trộm.

Nhà cửa bị hoả hoạn thiêu rụi (agārāni aggi ḍahati pāvako), mỗi năm bị cháy nhà hai ba lần, do người khác đốt hoặc do trời đánh cháy, hoặc tự phát hoả cháy.

Đó là mười thảm hoạ mà kẻ đã hãm hại bậc thánh vô lậu phải hứng chịu ngay kiếp hiện tại.

Còn ở kiếp tương lai thì nó sau khi mệnh chung sẽ phải đoạ sanh vào bốn khổ cảnh (niraya) như địa ngục (naraka), ngạ quỉ (peta), A tu la (asura), bàng sanh (tiracchāna) ./.

 Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu.

@@@@@@@@@@@@@@@@@@

Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali

Quý vị vào link bên dưới để xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.

Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10

https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts

Gõ Tiếng Việt trên Windows 10

http://unikey.vn/vietnam/

 

 

-ooOoo- /span>