BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 06 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c) - Đại Phẩm Thứ Bảy (S.ii, 95).

TIẾNG VỖ CỦA HAI BÀN TAY.

Bài 62. Kinh Không Học Hiểu II (Assutavāsuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 Cảm thọ thường là thước đo hạnh phúc trong cuộc sống. Cảm thọ lạc khiến người ta hân hoan bám víu. Cảm thọ khổ khiến ta khó chịu bực bội. Cảm thọ không khổ không lạc thường làm người ta thấy vô vị nhàm chán. Đối với người tu tập, do chánh niệm bén nhạy, nhận ra cảm thọ là một sản phẩm tạo nên bởi xúc, hay sự cọ xát giữa căn và cảnh. Cảm thọ sanh diệt nhanh chóng. Phản ứng thì kéo dài. Phần lớn cảm thọ đưa đến phiền não. Thọ lạc thì tạo nên ái chấp. Khổ thọ thì tạo nên sân tâm. Phải thấy được tánh giả hợp chợt sanh khởi chợt tan biến nhưng nắng sớm mưa chiều thì mới nhận ra giòng hiện hữu chỉ là sự kết nối của những mắt xích duyên sinh.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme...pe... ‘‘assutavā, bhikkhave, puthujjano imasmiṃ cātumahābhūtikasmiṃ kāyasmiṃ nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi. Taṃ kissa hetu? Dissati, bhikkhave, imassa cātumahābhūtikassa kāyassa ācayopi apacayopi ādānampi nikkhepanampi. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nibbindeyyapi virajjeyyapi vimucceyyapi’’.

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anāthapiṇḍika (dâng cúng).

-- Này chư Tỳ khưu, phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán, viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại tạo thành.

Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, vì họ thấy được cái thân nầy vốn do tứ đại tạo thành có tăng trưởng, có suy giảm, có nắm giữ, có quăng bỏ.

Do vậy, ở đây phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán, viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại tạo thành.

‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, tatrāssutavā puthujjano nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ. Taṃ kissa hetu? Dīgharattañhetaṃ, bhikkhave, assutavato puthujjanassa ajjhositaṃ mamāyitaṃ parāmaṭṭhaṃ – ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’ti. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ.

-- Này chư Tỳ khưu, thế nhưng ở đây đối với cái gọi là tâm, là ý, là thức,  kẻ vô văn phàm phu không có thể nhàm chán, không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc.

Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, Ðã lâu ngày, vì lâu đời kẻ vô văn phàm phu đắm nhiễm, định kiến, chấp thủ: “Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta”.

Do vậy, phàm nhân không có học hiểu không có thể nhàm chán, không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc đối với tâm thức .

‘‘Varaṃ, bhikkhave, assutavā puthujjano imaṃ cātumahābhūtikaṃ kāyaṃ attato upagaccheyya, na tveva cittaṃ. Taṃ kissa hetu? Dissatāyaṃ, bhikkhave, cātumahābhūtiko kāyo ekampi vassaṃ tiṭṭhamāno dvepi vassāni tiṭṭhamāno tīṇipi vassāni tiṭṭhamāno cattāripi vassāni tiṭṭhamāno pañcapi vassāni tiṭṭhamāno dasapi vassāni tiṭṭhamāno vīsatipi vassāni tiṭṭhamāno tiṃsampi vassāni tiṭṭhamāno cattārīsampi vassāni tiṭṭhamāno paññāsampi vassāni tiṭṭhamāno vassasatampi tiṭṭhamāno, bhiyyopi tiṭṭhamāno.

‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ nirujjhati. Seyyathāpi, bhikkhave, makkaṭo araññe pavane caramāno sākhaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati; evameva kho, bhikkhave, yamidaṃ vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ nirujjhati.

-- Này chư Tỳ khưu, thật tốt hơn cho phàm nhân không có học hiểu chấp ngã đối với thân do tứ đại tạo thành hơn là đối với tâm.

Vì sao vậy ? Này chư Tỳ khưu, thân do bốn đại tạo thành này được thấy tồn tại một năm, tồn tại hai năm, tồn tại ba năm, tồn tại bốn năm, tồn tạ inăm năm, tồn tại mười năm, tồn tại hai mươi năm, tồn tại ba mươi năm, tồn tại bốn mươi năm, tồn tại năm mươi năm, tồn tại một trăm năm, thậm chí nhiều hơn. Này chư Tỳ khưu, còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác. Này chư Tỳ khưu, giống như con khỉ đi lại trong rừng buông cành cây nầy, chụp nhánh cây kia rồi buông nhánh cây kia để chụp nhành cây khác, cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác.

‘‘Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako paṭiccasamuppādaṃyeva sādhukaṃ yoniso manasi karoti – ‘iti imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhatī’ti. Sukhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati sukhavedanā. Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati. Dukkhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati dukkhavedanā. Tasseva dukkhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ dukkhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā dukkhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati. Adukkhamasukhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhavedanā. Tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā adukkhamasukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati.

-- Này chư Tỳ khưu, ở đây vị thánh đệ tử có học hiểu khéo suy tư quán sát lý duyên khởi: “Do cái nầy có nên cái kia có. Do cái nầy sanh nên cái kia sanh. Do cái nầy không có nên cái kia không có. Do cái nầy diệt nên cái kia diệt”.

-- Này chư Tỳ khưu, do duyên xúc cảm giác lạc, nên lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác lạc, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

Do duyên xúc cảm giác khổ, nên khổ thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác khổ, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

Do duyên xúc cảm giác không khổ không  lạc, nên không khổ không lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác không khổ không lạc, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ saṅghaṭṭanasamodhānā usmā jāyati tejo abhinibbattati. Tesaṃyeva dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ nānākatavinibbhogā yā tajjā usmā sā nirujjhati sā vūpasammati; evameva kho, bhikkhave, sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati sukhavedanā. Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati...pe... adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhavedanā. Tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā adukkhamasukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati.

-- Này chư Tỳ khưu, ví như sức nóng tạo nên từ  hai miếng gỗ cọ xát. Khi khai miếng gỗ tách rời để một bên thì sức nóng không còn. Cũng vậy, do duyên xúc cảm giác lạc, nên lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác lạc, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

Do duyên xúc cảm giác khổ, nên khổ thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác khổ, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

Do duyên xúc cảm giác không khổ không  lạc, nên không khổ không lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác không khổ không lạc, nên lạc thọ cũng  ngưng và chấm dứt.

‘‘Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako phassepi nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati, saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati; nibbindaṃ virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti. Dutiyaṃ.

-- Này chư Tỳ khưu, vị thánh đệ tử có học hiểu nhận thức như vậy nên nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham  nên giải thoát. Khi  giải thoát, tuệ tri: "Đã giải thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".

Chú Thích

Nội dung bài kinh nầy phần lớn giống bài kinh trước nên gọi là Kinh Không Học Hiểu II (Assutavāsuttaṃ). Đoạn cuối khác biệt khi Đức Phật giảng về xúc với thí dụ về sự cọ xát của hai miếng gỗ.

Theo Sớ Giải thì trong thí dụ 2 miếng gỗ, một chỉ cho sáu căn, một chỉ cho sáu cảnh. Xúc được thí dụ bằng sự cọ xát. Sức nóng do sự cọ xát được thí dụ cho cảm thọ.

Đây cũng là một bài kinh dạy về sự quán sát duyên khởi qua pháp hành. Mấu chốt để quán chíếu ở đây là “xúc duyên thọ”, một công đoạn trực tiếp xẩy ra từng giây phút trong cuộc sống hằng ngày.

Cảm thọ đến từ xúc. Con mắt thấy cảnh đẹp thì lạc thọ sanh khởi. Mũi ngửi mùi hôi thối thì khổ thọ sanh khởi. Khi nghe âm thanh quen thuộc bình thường thì cảm giác không khổ không lạc. Đó là vài thí dụ về xúc duyên thọ.

Cảnh xuất hiện thì tạo nên cảm thọ. Cảnh tan biến thì thọ cũng tan biến. Hành gỉả tu tập nhận ra sự sanh diệt chóng vánh của cảm thọ một cách trực tiếp để không bị tác động xa hơn tức tạo nên ái, rồi thủ, rồi hữu … Có hai bài học mà hành giả có thể thực hành: một là không đặt bản thân tiếp xúc với cảnh tạo nên phiền não tham, sân. Hai là khi cảm thọ sanh khởi nhận rõ tính cách phù ảo chợt đến, chợt đi nên không ái chấp.

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-