|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 06 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
TIẾNG VỖ CỦA HAI BÀN TAY. Bài 62. Kinh Không Học Hiểu II (Assutavāsuttaṃ).
Cảm thọ thường
là thước đo hạnh phúc trong cuộc sống. Cảm thọ lạc khiến
người ta hân hoan bám víu. Cảm thọ khổ khiến ta khó chịu bực
bội. Cảm thọ không khổ không lạc thường làm người ta thấy vô
vị nhàm chán. Đối với người tu tập, do chánh niệm bén nhạy,
nhận ra cảm thọ là một sản phẩm tạo nên bởi xúc, hay sự cọ
xát giữa căn và cảnh. Cảm thọ sanh diệt nhanh chóng. Phản
ứng thì kéo dài. Phần lớn cảm thọ đưa đến phiền não. Thọ lạc
thì tạo nên ái chấp. Khổ thọ thì tạo nên sân tâm. Phải thấy
được tánh giả hợp chợt sanh khởi chợt tan biến nhưng nắng
sớm mưa chiều thì mới nhận ra giòng hiện hữu chỉ là sự kết
nối của những mắt xích duyên sinh.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā
sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme...pe...
‘‘assutavā, bhikkhave, puthujjano imasmiṃ
cātumahābhūtikasmiṃ kāyasmiṃ nibbindeyyapi virajjeyyapi
vimucceyyapi. Taṃ kissa hetu? Dissati, bhikkhave, imassa
cātumahābhūtikassa kāyassa ācayopi apacayopi ādānampi
nikkhepanampi. Tasmā tatrāssutavā puthujjano nibbindeyyapi
virajjeyyapi vimucceyyapi’’.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn
ngự ở Sāvatthi,
tại
Jetavana,
khu
vườn ông Anāthapiṇḍika
(dâng cúng).
-- Này
chư Tỳ khưu,
phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm chán, viễn ly,
không vưóng mắc với thân
nầy vốn do tứ đại tạo
thành.
Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, vì họ thấy được cái thân nầy vốn do tứ
đại tạo thành có tăng trưởng, có suy giảm, có
nắm giữ, có quăng bỏ.
Do vậy, ở đây phàm nhân không có học hiểu có thể nhàm
chán, viễn ly, không vưóng mắc với thân nầy vốn do tứ đại
tạo thành.
‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ
itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi, tatrāssutavā puthujjano
nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ. Taṃ
kissa hetu? Dīgharattañhetaṃ, bhikkhave, assutavato
puthujjanassa ajjhositaṃ mamāyitaṃ parāmaṭṭhaṃ – ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’ti. Tasmā tatrāssutavā puthujjano
nālaṃ nibbindituṃ nālaṃ virajjituṃ nālaṃ vimuccituṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
thế nhưng
ở đây
đối với cái gọi là
tâm, là ý, là thức,
kẻ vô văn phàm phu không có thể nhàm chán,
không có thể
viễn ly,
không có thể
không vưóng mắc.
Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, Ðã lâu ngày,
vì lâu đời
kẻ vô văn
phàm phu đắm
nhiễm, định kiến, chấp thủ: “Đây là của ta, đây là ta, đây
là tự ngã của ta”.
Do vậy, phàm nhân không có học hiểu không có thể nhàm
chán, không có thể viễn ly, không có thể không vưóng mắc
đối với tâm thức
.
‘‘Varaṃ, bhikkhave, assutavā puthujjano imaṃ
cātumahābhūtikaṃ kāyaṃ attato upagaccheyya, na tveva cittaṃ.
Taṃ kissa hetu? Dissatāyaṃ, bhikkhave, cātumahābhūtiko kāyo
ekampi vassaṃ tiṭṭhamāno dvepi vassāni tiṭṭhamāno tīṇipi
vassāni tiṭṭhamāno cattāripi vassāni tiṭṭhamāno pañcapi
vassāni tiṭṭhamāno dasapi vassāni tiṭṭhamāno vīsatipi
vassāni tiṭṭhamāno tiṃsampi vassāni tiṭṭhamāno cattārīsampi
vassāni tiṭṭhamāno paññāsampi vassāni tiṭṭhamāno
vassasatampi tiṭṭhamāno, bhiyyopi tiṭṭhamāno.
‘‘Yañca kho etaṃ, bhikkhave, vuccati cittaṃ itipi, mano
itipi, viññāṇaṃ itipi, taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva
uppajjati aññaṃ nirujjhati. Seyyathāpi, bhikkhave, makkaṭo
araññe pavane caramāno sākhaṃ gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ
gaṇhati, taṃ muñcitvā aññaṃ gaṇhati; evameva kho, bhikkhave,
yamidaṃ vuccati cittaṃ itipi, mano itipi, viññāṇaṃ itipi,
taṃ rattiyā ca divasassa ca aññadeva uppajjati aññaṃ
nirujjhati. -- Này chư Tỳ khưu, thật tốt hơn cho phàm nhân không có học hiểu chấp ngã đối với thân do tứ đại tạo thành hơn là đối với tâm. Vì sao vậy ? Này chư Tỳ khưu, thân do bốn đại tạo thành này được thấy tồn tại một năm, tồn tại hai năm, tồn tại ba năm, tồn tại bốn năm, tồn tạ inăm năm, tồn tại mười năm, tồn tại hai mươi năm, tồn tại ba mươi năm, tồn tại bốn mươi năm, tồn tại năm mươi năm, tồn tại một trăm năm, thậm chí nhiều hơn. Này chư Tỳ khưu, còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác. Này chư Tỳ khưu, giống như con khỉ đi lại trong rừng buông cành cây nầy, chụp nhánh cây kia rồi buông nhánh cây kia để chụp nhành cây khác, cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, ngày đêm sanh khởi là khác, diệt đi là khác.
‘‘Tatra, bhikkhave, sutavā ariyasāvako
paṭiccasamuppādaṃyeva sādhukaṃ yoniso manasi karoti – ‘iti
imasmiṃ sati idaṃ hoti, imassuppādā idaṃ uppajjati; imasmiṃ
asati idaṃ na hoti, imassa nirodhā idaṃ nirujjhatī’ti.
Sukhavedaniyaṃ, bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati
sukhavedanā. Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ
tajjaṃ vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā
sukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati. Dukkhavedaniyaṃ,
bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati dukkhavedanā. Tasseva
dukkhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ vedayitaṃ
dukkhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā dukkhavedanā sā
nirujjhati sā vūpasammati. Adukkhamasukhavedaniyaṃ,
bhikkhave, phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhavedanā.
Tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ
tajjaṃ vedayitaṃ adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca
uppannā adukkhamasukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati. -- Này chư
Tỳ khưu,
ở
đây vị thánh đệ tử có học hiểu khéo suy tư quán sát lý duyên
khởi: “Do cái nầy có nên cái kia có. Do cái nầy sanh nên cái
kia sanh. Do cái nầy không có nên cái kia không có. Do cái
nầy diệt nên cái kia diệt”.
-- Này chư Tỳ khưu, do duyên xúc
cảm giác lạc, nên lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác
lạc, nên lạc thọ cũng
ngưng và chấm dứt.
Do duyên xúc cảm giác
khổ, nên
khổ thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác
khổ, nên lạc thọ cũng
ngưng và chấm dứt.
Do duyên xúc cảm giác không khổ không
lạc, nên không khổ
không lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên
cảm giác không khổ không lạc, nên lạc thọ cũng
ngưng và chấm dứt.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ
saṅghaṭṭanasamodhānā usmā jāyati tejo abhinibbattati.
Tesaṃyeva dvinnaṃ kaṭṭhānaṃ nānākatavinibbhogā yā tajjā usmā
sā nirujjhati sā vūpasammati; evameva kho, bhikkhave,
sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppajjati sukhavedanā.
Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ
vedayitaṃ sukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā sukhavedanā
sā nirujjhati sā vūpasammati...pe... adukkhamasukhavedaniyaṃ
phassaṃ paṭicca uppajjati adukkhamasukhavedanā. Tasseva
adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṃ tajjaṃ
vedayitaṃ adukkhamasukhavedaniyaṃ phassaṃ paṭicca uppannā
adukkhamasukhavedanā sā nirujjhati sā vūpasammati.
-- Này chư Tỳ khưu,
ví như
sức nóng tạo nên từ
hai
miếng gỗ cọ xát.
Khi khai miếng
gỗ tách rời để một bên thì sức nóng không còn. Cũng vậy,
do duyên xúc cảm giác lạc, nên lạc thọ sanh khởi.
Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác lạc, nên lạc thọ
cũng
ngưng
và chấm dứt.
Do duyên xúc cảm giác
khổ, nên
khổ thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên cảm giác
khổ, nên lạc thọ cũng
ngưng và chấm dứt.
Do duyên xúc cảm giác không khổ không
lạc, nên không khổ
không lạc thọ sanh khởi. Với sự chấm dứt xúc. vốn tạo nên
cảm giác không khổ không lạc, nên lạc thọ cũng
ngưng và chấm dứt.
‘‘Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako phassepi
nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati,
saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati; nibbindaṃ
virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti pajānātī’’ti. Dutiyaṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
vị thánh
đệ tử có học hiểu nhận thức như vậy nên
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm
chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán
nên
ly
tham; do
ly tham
nên giải thoát.
Khi
giải thoát, tuệ
tri: "Đã giải
thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
Chú Thích
Nội dung bài kinh nầy phần lớn giống bài kinh trước nên gọi
là Kinh Không Học Hiểu II (Assutavāsuttaṃ). Đoạn cuối khác
biệt khi Đức Phật giảng về xúc với thí dụ về sự cọ xát của
hai miếng gỗ.
Theo Sớ Giải thì trong thí dụ 2 miếng gỗ, một chỉ cho sáu
căn, một chỉ cho sáu cảnh. Xúc được thí dụ bằng sự cọ xát.
Sức nóng do sự cọ xát được thí dụ cho cảm thọ.
Đây cũng là một bài kinh dạy về sự quán sát duyên khởi qua
pháp hành. Mấu chốt để quán chíếu ở đây là “xúc duyên thọ”,
một công đoạn trực tiếp xẩy ra từng giây phút trong cuộc
sống hằng ngày.
Cảm thọ đến từ xúc. Con mắt thấy cảnh đẹp thì lạc thọ sanh
khởi. Mũi ngửi mùi hôi thối thì khổ thọ sanh khởi. Khi nghe
âm thanh quen thuộc bình thường thì cảm giác không khổ không
lạc. Đó là vài thí dụ về xúc duyên thọ.
Cảnh xuất hiện thì tạo nên cảm thọ. Cảnh tan biến thì thọ
cũng tan biến. Hành gỉả tu tập nhận ra sự sanh diệt chóng
vánh của cảm thọ một cách trực tiếp để không bị tác động xa
hơn tức tạo nên ái, rồi thủ, rồi hữu … Có hai bài học mà
hành giả có thể thực hành: một là không đặt bản thân tiếp
xúc với cảnh tạo nên phiền não tham, sân. Hai là khi cảm thọ
sanh khởi nhận rõ tính cách phù ảo chợt đến, chợt đi nên
không ái chấp. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |