|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 10 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
CÓ SỞ CHẤP THÌ CÓ KHỔ ĐAU. Bài 64. Kinh Nếu Có Ham Muốn (Atthirāgasuttaṃ).
Nếu sự tạo tác
của nghiệp là yếu tính tạo nên trầm luân sanh tử khổ đau thì
ái chấp chính là động lực. Sự yêu thích tạo nên sự định hình
cái mình muốn và tác động tạo nghiệp. Những duyên sinh nầy
có thể vô hình sâu kín ở mỗi chúng sanh nhưng có mãnh lực và
sự bền bỉ. Lực đẩy đủ mạnh để tạo nên tất cả khổ đau trong
đời. Bền bỉ đủ dài để tạo nên hành trình sanh tử qua vô
lượng kiếp. Câu chuyện tuy dài và rộng lớn như có thể quán
chiếu ngay trong mỗi phút giây của cuộc sống. Chánh niệm
được xem như kính hiển vi giúp nhìn rõ những động thái vô
cùng vi tế của khổ và nhân sanh khổ.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘cattārome, bhikkhave, āhārā
bhūtānaṃ vā sattānaṃ ṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya.
Katame cattāro? Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā,
phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ. Ime
kho, bhikkhave, cattāro āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃ ṭhitiyā
sambhavesīnaṃ vā anuggahāya’’.
Tại Sāvatthi.
-- Này chư Tỳ khưu, có
bốn loại dưỡng tố này nuôi dưỡng sự tồn tại của chúng sanh
đã sinh hay trợ duyên cho cho chúng sanh sắp sanh ra.
Bốn pháp đó là gì? (Thứ nhất là) đoàn thực thô hay
tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, thứ tư là
thức thực.
Đây là bốn loại dưỡng tố này nuôi dưỡng sự tồn tại của chúng
sanh đã sinh hay trợ duyên cho cho chúng sanh sắp sanh ra.
‘‘Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī
atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha
patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa
avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha
saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi
tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ.
Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave,
sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.
-- Này chư Tỳ khưu, đối với đoàn thực nếu có ham muốn, nếu có phấn khích, nếu có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy có sanh,
già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn,
có khổ nảo, có bi ai.
‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce,
bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo
atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ
virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha
nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti,
atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ
vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha
atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ
jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ,
sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.
-- Này chư Tỳ khưu,
nếu đối với xúc thực... (như trên)...
-- Này chư Tỳ khưu,
nếu đối với tư niệm thực...
-- Này chư Tỳ khưu,
đối
thức thực nếu có ham muốn, nếu có phấn khích, nếu
có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng
thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh
sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng
thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu
trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy
có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết
trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn, có khổ nảo, có
bi ai.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, rajako vā cittakārako vā sati
rajanāya vā lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā
suparimaṭṭhe vā phalake bhittiyā vā dussapaṭṭe vā itthirūpaṃ
vā purisarūpaṃ vā abhinimmineyya sabbaṅgapaccaṅgaṃ; evameva
kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre atthi rāgo atthi nandī
atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha
patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa
avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha
saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi
tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ.
Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave,
sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.
‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce,
bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo
atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ
virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha
nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti,
atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ
vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha
atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ
jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ,
sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.
-- Này chư Tỳ khưu,
ví
như
một một
hoạ sĩ hay
người thợ nhuộm dùng thuốc nhuộm, sơn, phẩm, hay
“gôm lắc” tạo nên nên những hình vẽ nữ nhân hoặc nam nhân
với đầy đủ hình vóc trên bức tường, bức tranh, hay mặt phẳng
nào đó. Cũng vậy, đối với đoàn thực, đối với
xúc thực, đối với tư niệm thực, đối với thức thực nếu có ham
muốn, nếu có phấn khích, nếu
có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng
thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh
sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng
thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu
trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy
có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết
trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn, có khổ nảo, có
bi ai.
‘‘Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī
natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ.
Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha
nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti,
natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ
vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha
natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ
jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ,
asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.
‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce,
bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo
natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ
avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi
tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa
avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi
saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ.
Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, asokaṃ taṃ, bhikkhave,
adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.
-- Này chư Tỳ khưu,
đối với đoàn thực, đối với xúc thực, đối với tư niệm
thực, đối với thức thực nếu
không
có ham muốn, nếu không có phấn khích, nếu
không có ái chấp, thời không có thức được thiết lập
và tăng thịnh. Chỗ nào thức
không
thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ
nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng
thịnh. Chỗ nào không có các hành tăng thịnh, chỗ ấy không có
sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào không có sanh hữu trong
tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai.
Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ
ấy không có sầu muộn, không có khổ nảo, không có bi ai.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāraṃ vā kūṭāgārasālaṃ vā
uttarāya vā dakkhiṇāya vā pācīnāya vā vātapānā sūriye
uggacchante vātapānena rasmi pavisitvā kvāssa patiṭṭhitā’’
ti? ‘‘Pacchimāyaṃ, bhante, bhittiya’’nti. ‘‘Pacchimā ce,
bhikkhave, bhitti nāssa kvāssa patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Pathaviyaṃ,
bhante’’ti. ‘‘Pathavī ce, bhikkhave, nāssa kvāssa
patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Āpasmiṃ, bhante’’ti. ‘‘Āpo ce, bhikkhave,
nāssa kvāssa patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Appatiṭṭhitā, bhante’’ti.
‘‘Evameva kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre natthi rāgo
natthi nandī natthi taṇhā...pe....
‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre... manosañcetanāya ce,
bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo
natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ
avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi
tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa
avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi
saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ
punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ.
Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ asokaṃ taṃ, bhikkhave,
adaraṃ anupāyāsanti vadāmī’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu,
giả sử có một ngôi nhà hay dinh thự mái nhọn
có cửa sổ hướng bắc, hướng nam, hướng đông. Khi mặc trời
mọc, ánh sáng chiếu rọi vào tường phía nào? -- Này chư Tỳ khưu, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào? -- Bạch Đức Thế Tôn, chiếu trên mặt đất. -- Này chư Tỳ khưu, nếu không có mặt đất, thời chiếu vào chỗ nào? -- Bạch Đức Thế Tôn, chiếu trên mặt nước. -- Này chư Tỳ khưu, nếu không có mặt nước, thời chiếu vào chỗ nào? -- Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.
-- Cũng vậy,
này chư Tỳ khưu,
đối với đoàn thực, đối với xúc thực, đối với tư niệm
thực, đối với thức thực nếu không có ham muốn, nếu không có
phấn khích, nếu
không có ái chấp, thời không có thức được thiết lập và tăng
thịnh. Chỗ nào thức không thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy
không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ
ấy không có các hành tăng thịnh. Chỗ nào không có các hành
tăng thịnh, chỗ ấy không có sanh hữu trong tương lai. Chỗ
nào không có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy không có sanh,
già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết
trong tương lai, Ta nói chỗ ấy không có sầu muộn, không có
khổ nảo, không có bi ai.
Chú Thích
Theo Sớ Giải thì sự dục vọng (rāga), phấn khích (nandī), and
khát ái (taṇhā) đều
đồng nghĩa với tham
(lobha).
Sớ Giải chú thích cụm từ patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ
virūḷhaṃ (thức được thiết lập và tăng thịnh) chỉ cho sự ham
muốn trở thành nghiệp hữu để rồi dẫn tới sanh hữu.
Hai trạng từ yattha
... tattha .. (chỗ nào…chỗ đó..) được Sớ giải chú thích là
cõi tái sanh trong tam giới.
Chỗ nào danh sắc hạ sanh thì hành tăng thịnh (yattha atthi
nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi) là
cách nói cần lưu ý: thay vì các duyên sinh dùng cùng động từ
giống nhau nhưng đối với danh sắc thì sanh ra (avakkanti)
nhưng đối với hành thì tăng thịnh (vuddhi). Điều nầy hàm ý
sự sanh ra của danh sắc là khởi đầu một kiếp sống mới
ā(yatiṃ punabbhavābhinibbatti)
Sớ giải chú thích dụ ngôn vẽ tranh thì hoạ sĩ được ví cho
nghiệp hay sự tạo tác. Bức tường hay tấm vãi căng tượng
trưng cho các cõi tử sanh trong tam giới. Hình dạng được tạo
trên bức tranh ám chỉ cho những hình thái tái sanh. Hoạ sĩ
tài hoa thì hình vẽ đẹp. Nghiệp tốt tạo sanh hữu an lạc.
Nghiệp xấu tạo quả bất hạnh.
Theo Sớ giải thì ánh sáng chiếu vào khoảng không ví dụ cho
sở hành của chư vị ứng cúng la hán vốn vô sở y. Không có sở
y thi không có thiết lập (appatiṭṭhitā). Hành động của chư
vị a la hán là duy tác, có hành động không có quả s
(kiriyamatte ṭhatvā avipākaṃ hoti). Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |