BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 10 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c) - Đại Phẩm Thứ Bảy (S.ii, 101).

CÓ SỞ CHẤP THÌ CÓ KHỔ ĐAU.

Bài 64. Kinh Nếu Có Ham Muốn (Atthirāgasuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Nếu sự tạo tác của nghiệp là yếu tính tạo nên trầm luân sanh tử khổ đau thì ái chấp chính là động lực. Sự yêu thích tạo nên sự định hình cái mình muốn và tác động tạo nghiệp. Những duyên sinh nầy có thể vô hình sâu kín ở mỗi chúng sanh nhưng có mãnh lực và sự bền bỉ. Lực đẩy đủ mạnh để tạo nên tất cả khổ đau trong đời. Bền bỉ đủ dài để tạo nên hành trình sanh tử qua vô lượng kiếp. Câu chuyện tuy dài và rộng lớn như có thể quán chiếu ngay trong mỗi phút giây của cuộc sống. Chánh niệm được xem như kính hiển vi giúp nhìn rõ những động thái vô cùng vi tế của khổ và nhân sanh khổ.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘cattārome, bhikkhave, āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃ ṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya. Katame cattāro? Kabaḷīkāro āhāro oḷāriko vā sukhumo vā, phasso dutiyo, manosañcetanā tatiyā, viññāṇaṃ catutthaṃ. Ime kho, bhikkhave, cattāro āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃ ṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya’’.

Tại Sāvatthi.

-- Này chư Tỳ khưu,  có bốn loại dưỡng tố này nuôi dưỡng sự tồn tại của chúng sanh đã sinh hay trợ duyên cho cho chúng sanh sắp sanh ra.  Bốn pháp đó là gì? (Thứ nhất là) đoàn thực thô hay tế, thứ hai là xúc thực, thứ ba là tư niệm thực, thứ tư là thức thực.

Đây là bốn loại dưỡng tố này nuôi dưỡng sự tồn tại của chúng sanh đã sinh hay trợ duyên cho cho chúng sanh sắp sanh ra. 

‘‘Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.

-- Này chư Tỳ khưu,  đối với đoàn thực nếu có ham muốn, nếu có phấn khích, nếu  có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn, có khổ nảo, có bi ai.

‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.

-- Này chư Tỳ khưu,  nếu đối với xúc thực... (như trên)...

-- Này chư Tỳ khưu,  nếu đối với tư niệm thực...

-- Này chư Tỳ khưu,  đối thức thực nếu có ham muốn, nếu có phấn khích, nếu  có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn, có khổ nảo, có bi ai.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, rajako vā cittakārako vā sati rajanāya vā lākhāya vā haliddiyā vā nīliyā vā mañjiṭṭhāya vā suparimaṭṭhe vā phalake bhittiyā vā dussapaṭṭe vā itthirūpaṃ vā purisarūpaṃ vā abhinimmineyya sabbaṅgapaccaṅgaṃ; evameva kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.

‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre atthi rāgo atthi nandī atthi taṇhā, patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ. Yattha patiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ virūḷhaṃ, atthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha atthi saṅkhārānaṃ vuddhi, atthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha atthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, atthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha atthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, sasokaṃ taṃ, bhikkhave, sadaraṃ saupāyāsanti vadāmi.

-- Này chư Tỳ khưu,  ví như một một hoạ sĩ hay người thợ nhuộm dùng thuốc nhuộm, sơn, phẩm, hay “gôm lắc” tạo nên nên những hình vẽ nữ nhân hoặc nam nhân với đầy đủ hình vóc trên bức tường, bức tranh, hay mặt phẳng nào đó. Cũng vậy, đối với đoàn thực, đối với xúc thực, đối với tư niệm thực, đối với thức thực nếu có ham muốn, nếu có phấn khích, nếu  có ái chấp, thời có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng thịnh. Chỗ nào có các hành tăng thịnh, chỗ ấy có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu muộn, có khổ nảo, có bi ai.

‘‘Kabaḷīkāre ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.

‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre...pe... manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ, asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmi.

-- Này chư Tỳ khưu,  đối với đoàn thực, đối với xúc thực, đối với tư niệm thực, đối với thức thực nếu không có ham muốn, nếu không có phấn khích, nếu  không có ái chấp, thời không có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức không thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng thịnh. Chỗ nào không có các hành tăng thịnh, chỗ ấy không có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào không có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy không có sầu muộn, không có khổ nảo, không có bi ai.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāraṃ vā kūṭāgārasālaṃ vā uttarāya vā dakkhiṇāya vā pācīnāya vā vātapānā sūriye uggacchante vātapānena rasmi pavisitvā kvāssa patiṭṭhitā’’ ti? ‘‘Pacchimāyaṃ, bhante, bhittiya’’nti. ‘‘Pacchimā ce, bhikkhave, bhitti nāssa kvāssa patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Pathaviyaṃ, bhante’’ti. ‘‘Pathavī ce, bhikkhave, nāssa kvāssa patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Āpasmiṃ, bhante’’ti. ‘‘Āpo ce, bhikkhave, nāssa kvāssa patiṭṭhitā’’ti? ‘‘Appatiṭṭhitā, bhante’’ti. ‘‘Evameva kho, bhikkhave, kabaḷīkāre ce āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā...pe....

‘‘Phasse ce, bhikkhave, āhāre... manosañcetanāya ce, bhikkhave, āhāre... viññāṇe ce, bhikkhave, āhāre natthi rāgo natthi nandī natthi taṇhā, appatiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ avirūḷhaṃ. Yattha appatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ avirūḷhaṃ, natthi tattha nāmarūpassa avakkanti. Yattha natthi nāmarūpassa avakkanti, natthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi. Yattha natthi saṅkhārānaṃ vuddhi, natthi tattha āyatiṃ punabbhavābhinibbatti. Yattha natthi āyatiṃ punabbhavābhinibbatti, natthi tattha āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ. Yattha natthi āyatiṃ jātijarāmaraṇaṃ asokaṃ taṃ, bhikkhave, adaraṃ anupāyāsanti vadāmī’’ti.

-- Này chư Tỳ khưu,  giả sử có một ngôi nhà hay dinh thự mái nhọn có cửa sổ hướng bắc, hướng nam, hướng đông. Khi mặc trời mọc, ánh sáng chiếu rọi vào tường phía nào?

-- Bạch Đức Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.
-- Này chư Tỳ khưu, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, chiếu trên mặt đất.
-- Này chư Tỳ khưu, nếu không có mặt đất, thời chiếu vào chỗ nào?
-- Bạch Đức Thế Tôn, chiếu trên mặt nước.
-- Này chư Tỳ khưu, nếu không có mặt nước, thời chiếu vào chỗ nào?
-- Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.

-- Cũng vậy, này chư Tỳ khưu,  đối với đoàn thực, đối với xúc thực, đối với tư niệm thực, đối với thức thực nếu không có ham muốn, nếu không có phấn khích, nếu  không có ái chấp, thời không có thức được thiết lập và tăng thịnh. Chỗ nào thức không thiết lập và tăng thịnh chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng thịnh. Chỗ nào không có các hành tăng thịnh, chỗ ấy không có sanh hữu trong tương lai. Chỗ nào không có sanh hữu trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy không có sầu muộn, không có khổ nảo, không có bi ai.

Chú Thích

Theo Sớ Giải thì sự dục vọng (rāga), phấn khích (nandī), and khát ái (taṇhā) đều đồng nghĩa với tham (lobha).

Sớ Giải chú thích cụm từ patiṭṭhitaṃ tattha viññāṇaṃ virūḷhaṃ (thức được thiết lập và tăng thịnh) chỉ cho sự ham muốn trở thành nghiệp hữu để rồi dẫn tới sanh hữu.

Hai trạng từ  yattha ... tattha .. (chỗ nào…chỗ đó..) được Sớ giải chú thích là cõi tái sanh trong tam giới.

Chỗ nào danh sắc hạ sanh thì hành tăng thịnh (yattha atthi nāmarūpassa avakkanti, atthi tattha saṅkhārānaṃ vuddhi) là cách nói cần lưu ý: thay vì các duyên sinh dùng cùng động từ giống nhau nhưng đối với danh sắc thì sanh ra (avakkanti) nhưng đối với hành thì tăng thịnh (vuddhi). Điều nầy hàm ý sự sanh ra của danh sắc là khởi đầu một kiếp sống mới ā(yatiṃ punabbhavābhinibbatti)

Sớ giải chú thích dụ ngôn vẽ tranh thì hoạ sĩ được ví cho nghiệp hay sự tạo tác. Bức tường hay tấm vãi căng tượng trưng cho các cõi tử sanh trong tam giới. Hình dạng được tạo trên bức tranh ám chỉ cho những hình thái tái sanh. Hoạ sĩ tài hoa thì hình vẽ đẹp. Nghiệp tốt tạo sanh hữu an lạc. Nghiệp xấu tạo quả bất hạnh.

Theo Sớ giải thì ánh sáng chiếu vào khoảng không ví dụ cho sở hành của chư vị ứng cúng la hán vốn vô sở y. Không có sở y thi không có thiết lập (appatiṭṭhitā). Hành động của chư vị a la hán là duy tác, có hành động không có quả s (kiriyamatte ṭhatvā avipākaṃ hoti).

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-