|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 13 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 65. CON ĐƯỜNG CHƯ PHẬT ĐÃ ĐI QUA. Kinh Thành Phố (Nagarasuttaṃ).
Người ta có câu
nói “những tư tưởng lớn gặp nhau”. Trong cao điểm nào đó của
trí tuệ siêu việt có sự tương đồng kỳ lạ. Đó là trường hợp
giác ngộ của chư Phật toàn giác. Khi sự thật trần trụi được
tỏ ngộ không qua định kiến, lập thuyết thì dù có không gian
xa cách hay thời gian hoàn toàn khác biệt thì có sự đồng
nhất đáng kinh ngạc. Dụ ngôn cổ thành và con đường vốn bị
lãng quên mang ý nghĩa lớn với người tu tập: cảnh giới giác
ngộ không phải là sản phẩm được được nhào nặn làm nên mà là
khả năng nhìn các pháp một cách như nhiên, sự thật thế nào
thì thấy biết như vậy. Từ đó sẽ được thấy, được biết như các
bậc đại giác đã thấy đã biết.
Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘pubbe me, bhikkhave, sambodhā
anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi – ‘kicchā
vatāyaṃ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca
upapajjati ca. Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṃ
nappajānāti jarāmaraṇassa. Kudāssu nāma imassa dukkhassa
nissaraṇaṃ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti? Tassa mayhaṃ,
bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṃ hoti,
kiṃpaccayā jarāmaraṇa’nti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso
manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘jātiyā kho sati
jarāmaraṇaṃ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇa’’’nti.
Tại Sāvatthi.
-- Này chư Tỳ khưu,
thuở trước khi Ta chưa thành đạo, còn là bồ tát, chưa
hoàn toàn giác ngộ, ý nghĩ nầy khởi lên: Quả thật thế giới
nầy nằm trong hệ luỵ trong đó có sanh xuất, lão hoá, tử
vong. Hết diệt rồi sanh, không tìm ra lối thoát khỏi khổ đau
(dẫn đầu bởi) già và chết. Khi nào mới tìm ra lối thoát khỏi
khổ đau (dẫn đầu bởi) già chết?
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có
già, chết? cái gì lả duyên khởi của già chết?.
Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi
ta: “chính do có sanh nên có già chết. sanh là duyên khởi
của già chết”.
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho sati
jāti hoti...pe... bhavo hoti... upādānaṃ hoti... taṇhā
hoti... vedanā hoti... phasso hoti... saḷāyatanaṃ hoti...
nāmarūpaṃ hoti... kiṃpaccayā nāmarūpa’nti? Tassa mayhaṃ,
bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo –
‘viññāṇe kho sati nāmarūpaṃ hoti, viññāṇapaccayā
nāmarūpa’nti. Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu
kho sati viññāṇaṃ hoti, kiṃpaccayā viññāṇa’nti? Tassa
mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo
– ‘nāmarūpe kho sati viññāṇaṃ hoti, nāmarūpapaccayā
viññāṇa’’’nti.
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có
sanh?... có hữu?... có thủ?... có ái?... có thọ?.... có xúc?
… có lục nhập?....có danh sắc?....
Rồi này chư Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì có
mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? Thọ hiện
hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do
duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?"
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có
danh sắc? cái gì là duyên khởi của danh sắc?. Với sự thẩm
định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do có thức nên có danh
sắc, thức là duyên khởi của danh sắc”.
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có
thức? Cái gì là duyên khởi của thức?. Với sự thẩm định, tuệ
giác sanh khởi ta: “chính do có danh sắc nên có thức; danh
sắc là duyên khởi của thức”
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – paccudāvattati kho
idaṃ viññāṇaṃ nāmarūpamhā na paraṃ gacchati. Ettāvatā
jāyetha vā jīyetha vā mīyetha vā cavetha vā upapajjetha vā,
yadidaṃ nāmarūpapaccayā viññāṇaṃ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ; saḷāyatanapaccayā
phasso...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti. ‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave,
pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi
paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
-- Này chư Tỳ khưu,rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:
"Thức này
trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Đến mức độ như vậy, nên
bị sanh, bị lão hoá, bị tử vong, diệt rồi sanh, chính ở đó,
thức duyên cho danh sắc; rồi danh sắc với thức là duyên khởi
tạo nên lục nhập; với lục nhập là duyên khởi tạo nên xúc; ….
Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.
"Tập khởi, tập khởi". Này chư Tỳ
khưu, đối với
các pháp từ trước chưa từng được nghe, nay khởi lên với sự
thấy, biết, hiểu, xác chứng, và thấu triệt.
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho asati,
jarāmaraṇaṃ na hoti; kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti?
Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya
abhisamayo – ‘jātiyā kho asati, jarāmaraṇaṃ na hoti;
jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti. Tassa mayhaṃ, bhikkhave,
etadahosi – ‘kimhi nu kho asati jāti na hoti...pe... bhavo
na hoti... upādānaṃ na hoti... taṇhā na hoti... vedanā na
hoti... phasso na hoti... saḷāyatanaṃ na hoti... nāmarūpaṃ
na hoti. Kissa nirodhā nāmarūpanirodho’ti? Tassa mayhaṃ,
bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo –
‘viññāṇe kho asati, nāmarūpaṃ na hoti; viññāṇanirodhā
nāmarūpanirodho’’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:
"Do cái gì không có nên già chết không có? Do cái gì
diệt, khiến già chết diệt?"
Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do không có
sanh nên không có già chết. Do sanh chấm dứt nên già chết
chấm dứt”.
-- Này chư Tỳ khưu,rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:"Do cái gì không có nên sanh không có? … hữu không
có? …thủ không có?... ái không có? … thọ không có?... xúc
không có?..... lục nhập không có?.... danh sắc không có?...
Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do không có
thức nên không có danh sắc. Do thức chấm dứt nên danh sắc
chấm dứt”.
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho asati
viññāṇaṃ na hoti; kissa nirodhā viññāṇanirodho’ti? Tassa
mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo
– ‘nāmarūpe kho asati, viññāṇaṃ na hoti; nāmarūpanirodhā
viññāṇanirodho’’’ti.
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:
"Do cái gì không có nên thức không có? Do cái gì
diệt, khiến thức diệt?" Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi
ta: “chính do không có danh sắc nên không có thức. Do danh
sắc chấm dứt nên thức chấm dứt”.
‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – adhigato kho myāyaṃ
maggo bodhāya yadidaṃ – nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho;
viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho; nāmarūpanirodhā
saḷāyatananirodho; saḷāyatananirodhā phassanirodho...pe...
evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti.
‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu
dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā
udapādi āloko udapādi.
-- Này chư Tỳ khưu,
rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:
"Ta đã tìm ra con đường dẫn đến giác ngộ, chính là sự
chấm dứt của danh sắc khiến thức chấm dứt; danh sắc châm dứt
nên lục nhập chấm dứt; lục nhập chấm dứt nên xúc chấm dứt,
…. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khổ uẩn.
"Tịch tịnh, tịch tịnh". Này chư Tỳ khưu,
đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nay
khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng, và thấu triệt.
‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, puriso araññe pavane caramāno
passeyya purāṇaṃ maggaṃ purāṇañjasaṃ pubbakehi manussehi
anuyātaṃ. So tamanugaccheyya. Tamanugacchanto passeyya
purāṇaṃ nagaraṃ purāṇaṃ rājadhāniṃ pubbakehi manussehi
ajjhāvuṭṭhaṃ ārāmasampannaṃ vanasampannaṃ
pokkharaṇīsampannaṃ uddhāpavantaṃ ramaṇīyaṃ. Atha kho so,
bhikkhave, puriso rañño vā rājamahāmattassa vā āroceyya –
‘yagghe, bhante, jāneyyāsi – ahaṃ addasaṃ araññe pavane
caramāno purāṇaṃ maggaṃ purāṇañjasaṃ pubbakehi manussehi
anuyātaṃ tamanugacchiṃ. Tamanugacchanto addasaṃ purāṇaṃ
nagaraṃ purāṇaṃ rājadhāniṃ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṃ
ārāmasampannaṃ vanasampannaṃ pokkharaṇīsampannaṃ
uddhāpavantaṃ ramaṇīyaṃ. Taṃ, bhante, nagaraṃ māpehī’ti.
Atha kho so, bhikkhave, rājā vā rājamahāmatto vā taṃ nagaraṃ
māpeyya. Tadassa nagaraṃ aparena samayena iddhañceva
phītañca bāhujaññaṃ ākiṇṇamanussaṃ vuddhivepullappattaṃ.
Evameva khvāhaṃ, bhikkhave, addasaṃ purāṇaṃ maggaṃ
purāṇañjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyātaṃ.
-- Này chư Tỳ khưu,
ví
như
một
người khi đi qua
một khu rừng thấy một con đường cổ xưa, một đạo lộ từng được
sử dụng bởi nhiều người trong quá khứ. Người ấy lần theo con
đường tìm đến được một thành phố cổ đại, một cố đô vốn có
nhiều cư dân từng sống có công viên, vườn cây, hồ nước,
thành luỹ nguy nga.
Rồi nầy trở về báo với nhà vua hay quan đại thần: “Thưa
Ngài, xin biết rằng tôi đã đi qua một khu rừng thấy một con
đường cổ xưa, một đạo lộ được sử dụng bởi nhiều người trong
quá khứ. Người ấy lần theo con đường tìm đến được một thành
phố cổ đại, một cố đô vốn có nhiều cư dân từng sống có công
viên, vườn cây, hồ nước, thành luỹ nguy nga.
Hãy cho trùng tu lại thành phố ấy.
Rồi nhà vua hay vị đại thần cho trùng tu thành phố ấy. Sau
một thời gian thành phố ấy trở nên sầm uất, thịnh vượng,
đông đúc dân cư.
Này chư Tỳ khưu,
tương tự như vậy, ta đã tìm được con đường cũ, đạo lộ cổ xưa
mà chư vị chánh đẳng chánh giác thuở xưa đã đi qua.
‘‘Katamo ca so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi
sammāsambuddhehi anuyāto? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo,
seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi...pe... sammāsamādhi. Ayaṃ kho so,
bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi
sammāsambuddhehi anuyāto, tamanugacchiṃ; tamanugacchanto
jarāmaraṇaṃ abbhaññāsiṃ; jarāmaraṇasamudayaṃ abbhaññāsiṃ;
jarāmaraṇanirodhaṃ abbhaññāsiṃ; jarāmaraṇanirodhagāminiṃ
paṭipadaṃ abbhaññāsiṃ. Tamanugacchiṃ; tamanugacchanto jātiṃ
abbhaññāsiṃ...pe... bhavaṃ abbhaññāsiṃ... upādānaṃ
abbhaññāsiṃ... taṇhaṃ abbhaññāsiṃ... vedanaṃ abbhaññāsiṃ...
phassaṃ abbhaññāsiṃ... saḷāyatanaṃ abbhaññāsiṃ... nāmarūpaṃ
abbhaññāsiṃ... viññāṇaṃ abbhaññāsiṃ. Tamanugacchiṃ;
tamanugacchanto saṅkhāre abbhaññāsiṃ; saṅkhārasamudayaṃ
abbhaññāsiṃ; saṅkhāranirodhaṃ abbhaññāsiṃ;
saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadaṃ abbhaññāsiṃ. Tadabhiññā
ācikkhiṃ bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ.
Tayidaṃ, bhikkhave, brahmacariyaṃ iddhañceva phītañca
vitthārikaṃ bāhujaññaṃ puthubhūtaṃ yāva devamanussehi
suppakāsita’’nti.
-- Này chư Tỳ khưu,
thế nào là con đường cũ, đạo lộ cổ xưa mà chư vị
chánh đẳng chánh giác thuở xưa đã đi qua? Chính là chánh đạo
tám chi phần gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Ta đã đi theo con đường ấy nhờ vậy trực nhận được già chết,
sự tập khởi của già chết, con đường dẫn đến sự tập khởi của
già chết. Ta
trực nhận được sanh… hữu… thủ…ái….thọ …xúc….lục nhập….danh
sắc …thức…. hành; sự tập khởi của hành; sự tịch tịnh của
hành; con đường đưa đến sự tịch tịnh các hành.
Trực nhận những pháp ấy, Ta đã truyền dạy cho chư tỳ khưu,
tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Này chư Tỳ khưu, giáo pháp
nầy được viên mãn, hưng thịnh, quảng bá, phổ cập, thiện
thuyết giữa chư thiên và nhân loại.
Chú Thích
Bài kinh nầy trình bày giáo
lý duyên khởi trong tầm quán chiếu của Đức Phật trước thời
điểm thành đạo. Trong cách trình bày khác thì đêm thành đạo
của Đức Phật có ba công đoạn. Đầu tiên Ngài với năng lực tam
muội định nhớ biết nhiều tiền kiếp xa xưa với đầy đủ chi
tiết (túc mạng minh). Công đoạn thứ hai là nhìn thấy những
đầu mối liên hệ trong cuộc tử sinh (sanh tử minh). Công đoạn
sau cùng là tìm thấy chìa khoá đoạn tận kiết sử, chấm dứt
khổ đau. Đích điểm cuối cùng của ba công đoạn quán chiếu ấy
là chứng thành nhất thiết chủng trí hay quả vị tối thượng
chánh đẳng chánh giác. Những mô tả trong bài kinh này trong
một cách khác là quán chiếu duyên khởi. Ở đây không khác với
sự quán chiếu của tam minh. Chỉ là hai cách trình bày.
“Trước khi giác ngộ còn là bồ
tát - pubbe
sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva - chỉ cho thời
điểm ba canh trong đêm thành đạo. Sau trọn đêm quán chiếu
pháp giới Ngài chứng quả vô thượng chánh giáo lúc rạng đông.
Hai điểm lưu ý là: Một là trong trường hợp nầy do quán chiếu
duyên khởi dẫn đến đại ngộ chứ không phải giác ngộ rồi mới
quán chiếu duyên khởi. Hai là thuật ngữ bồ tát (bodhisatta)
được chính Đức Phật sử dụng ở đây mang nghĩa “chúng sanh
hướng cầu giác ngộ (nhưng chưa giác ngộ). Rất khác với định
nghĩa chữ bồ tát của Phật giáo Đại thừa sau nầy.
Duyên khởi trong bài kinh nầy
rất giống với cách trình bày trong kinh Đại Duyên
(Mahānidāna), Trường Bộ, với đoạn “danh sắc sanh khởi do
duyên thức, thức sanh khởi do duyên danh sắc” được Sớ Giải
chú thích là vì đây là sự quán chiếu (minh sát) trực tiếp
của bậc Đại Nhân nên chỉ đối với năm uẩn hiện hữu
(pañcavokārabhava)
trong lúc hành và vô minh được xem là thuộc về kiếp thứ ba
(kiếp khác) không là đối tượng quán chiếu trực tiếp của minh
sát tuệ (avijjāsaṅkhārā hi tatiyo bhavo, tehi saddhiṃ ayaṃ
vipassanā naghaṭīyati).
Sớ giải chú thích là mệnh đề
paccudāvattati kho idaṃviññāṇāṃ nāmarūpamhā na paraṃ
gacchati- với thức nầy trở lui không đi xa hơn danh sắc –
chỉ cho thức tái sanh và thức thẩm thấu. Cả hai năng tri và
sở tri không vượt khỏi danh sắc. Trong cách nói chuyên môn
của thiền quán là cái biết cũng là cái cần được biết.
Theo Sớ Giải thì câu “ta đã
khám phá ra con đường dẫn đến giác ngộ (adhigato kho myāyaṃ
maggo bodhāya) thì con đường là thiền quán minh sát và giác
ngộ chỉ cho nhận chân tứ đế trong đó có niết bàn.
Chữ nirodha có thể dịch là sự
đoạn tận, chấm dứt, tịch tịnh. Bản dịch linh động vì văn
phong có thể hiểu theo nghĩa hẹp nirodha chỉ cho sự chấm dứt
trong lúc chữ nầy còn hàm nghĩa niết bàn nên dịch là tịch
tịnh.
Con đường cổ xưa -purāṇaṃ maggaṃ - có hai
hàm ý: Một là hành trình giải thoát không phải là một sản
phẩm tư duy mà là phương các tự nhiên được khám phá bởi
những bậc đại trí (Chư Phật) trong quá khứ, hiện tại, tương
lai. Hai, đạo là con đường dẫn đến một đích điểm chứ không
phải tạo ra cứu cánh. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |