BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 13 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c) - Đại Phẩm Thứ Bảy (S.ii, 104).

Bài 65. CON ĐƯỜNG CHƯ PHẬT ĐÃ ĐI QUA. Kinh Thành Phố (Nagarasuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Người ta có câu nói “những tư tưởng lớn gặp nhau”. Trong cao điểm nào đó của trí tuệ siêu việt có sự tương đồng kỳ lạ. Đó là trường hợp giác ngộ của chư Phật toàn giác. Khi sự thật trần trụi được tỏ ngộ không qua định kiến, lập thuyết thì dù có không gian xa cách hay thời gian hoàn toàn khác biệt thì có sự đồng nhất đáng kinh ngạc. Dụ ngôn cổ thành và con đường vốn bị lãng quên mang ý nghĩa lớn với người tu tập: cảnh giới giác ngộ không phải là sản phẩm được được nhào nặn làm nên mà là khả năng nhìn các pháp một cách như nhiên, sự thật thế nào thì thấy biết như vậy. Từ đó sẽ được thấy, được biết như các bậc đại giác đã thấy đã biết.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthiyaṃ viharati...pe... ‘‘pubbe me, bhikkhave, sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva sato etadahosi – ‘kicchā vatāyaṃ loko āpanno jāyati ca jīyati ca mīyati ca cavati ca upapajjati ca. Atha ca panimassa dukkhassa nissaraṇaṃ nappajānāti jarāmaraṇassa. Kudāssu nāma imassa dukkhassa nissaraṇaṃ paññāyissati jarāmaraṇassā’ti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho sati jarāmaraṇaṃ hoti, kiṃpaccayā jarāmaraṇa’nti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘jātiyā kho sati jarāmaraṇaṃ hoti, jātipaccayā jarāmaraṇa’’’nti.

Tại Sāvatthi.

-- Này chư Tỳ khưu,  thuở trước khi Ta chưa thành đạo, còn là bồ tát, chưa hoàn toàn giác ngộ, ý nghĩ nầy khởi lên: Quả thật thế giới nầy nằm trong hệ luỵ trong đó có sanh xuất, lão hoá, tử vong. Hết diệt rồi sanh, không tìm ra lối thoát khỏi khổ đau (dẫn đầu bởi) già và chết. Khi nào mới tìm ra lối thoát khỏi khổ đau (dẫn đầu bởi) già chết?

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có già, chết? cái gì lả duyên khởi của già chết?. Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do có sanh nên có già chết. sanh là duyên khởi của già chết”.

‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho sati jāti hoti...pe... bhavo hoti... upādānaṃ hoti... taṇhā hoti... vedanā hoti... phasso hoti... saḷāyatanaṃ hoti... nāmarūpaṃ hoti... kiṃpaccayā nāmarūpa’nti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘viññāṇe kho sati nāmarūpaṃ hoti, viññāṇapaccayā nāmarūpa’nti. Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho sati viññāṇaṃ hoti, kiṃpaccayā viññāṇa’nti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘nāmarūpe kho sati viññāṇaṃ hoti, nāmarūpapaccayā viññāṇa’’’nti.

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có sanh?... có hữu?... có thủ?... có ái?... có thọ?.... có xúc? … có lục nhập?....có danh sắc?....

Rồi này chư Tỳ khưu, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?"

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có danh sắc? cái gì là duyên khởi của danh sắc?. Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do có thức nên có danh sắc, thức là duyên khởi của danh sắc”.

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: Do có cái gì nên có thức? Cái gì là duyên khởi của thức?. Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do có danh sắc nên có thức; danh sắc là duyên khởi của thức”

‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – paccudāvattati kho idaṃ viññāṇaṃ nāmarūpamhā na paraṃ gacchati. Ettāvatā jāyetha vā jīyetha vā mīyetha vā cavetha vā upapajjetha vā, yadidaṃ nāmarūpapaccayā viññāṇaṃ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ; nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ; saḷāyatanapaccayā phasso...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. ‘Samudayo, samudayo’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

-- Này chư Tỳ khưu,rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta: "Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Đến mức độ như vậy, nên bị sanh, bị lão hoá, bị tử vong, diệt rồi sanh, chính ở đó, thức duyên cho danh sắc; rồi danh sắc với thức là duyên khởi tạo nên lục nhập; với lục nhập là duyên khởi tạo nên xúc; …. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.

"Tập khởi, tập khởi". Này chư Tỳ khưu,  đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng, và thấu triệt.

‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho asati, jarāmaraṇaṃ na hoti; kissa nirodhā jarāmaraṇanirodho’ti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘jātiyā kho asati, jarāmaraṇaṃ na hoti; jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti. Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho asati jāti na hoti...pe... bhavo na hoti... upādānaṃ na hoti... taṇhā na hoti... vedanā na hoti... phasso na hoti... saḷāyatanaṃ na hoti... nāmarūpaṃ na hoti. Kissa nirodhā nāmarūpanirodho’ti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘viññāṇe kho asati, nāmarūpaṃ na hoti; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho’’’ti.

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:  "Do cái gì không có nên già chết không có? Do cái gì diệt, khiến già chết diệt?" Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do không có sanh nên không có già chết. Do sanh chấm dứt nên già chết chấm dứt”.

-- Này chư Tỳ khưu,rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:"Do cái gì không có nên sanh không có? … hữu không có? …thủ không có?... ái không có? … thọ không có?... xúc không có?..... lục nhập không có?.... danh sắc không có?... Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do không có thức nên không có danh sắc. Do thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt”.

‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – ‘kimhi nu kho asati viññāṇaṃ na hoti; kissa nirodhā viññāṇanirodho’ti? Tassa mayhaṃ, bhikkhave, yoniso manasikārā ahu paññāya abhisamayo – ‘nāmarūpe kho asati, viññāṇaṃ na hoti; nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho’’’ti.

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:  "Do cái gì không có nên thức không có? Do cái gì diệt, khiến thức diệt?" Với sự thẩm định, tuệ giác sanh khởi ta: “chính do không có danh sắc nên không có thức. Do danh sắc chấm dứt nên thức chấm dứt”.

‘‘Tassa mayhaṃ, bhikkhave, etadahosi – adhigato kho myāyaṃ maggo bodhāya yadidaṃ – nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho; nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho; saḷāyatananirodhā phassanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti. ‘Nirodho, nirodho’ti kho me, bhikkhave, pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.

-- Này chư Tỳ khưu,  rồi ý nghĩ nầy khởi lên nơi Ta:  "Ta đã tìm ra con đường dẫn đến giác ngộ, chính là sự chấm dứt của danh sắc khiến thức chấm dứt; danh sắc châm dứt nên lục nhập chấm dứt; lục nhập chấm dứt nên xúc chấm dứt, …. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khổ uẩn.

"Tịch tịnh, tịch tịnh". Này chư Tỳ khưu,  đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nay khởi lên với sự thấy, biết, hiểu, xác chứng, và thấu triệt.

‘‘Seyyathāpi, bhikkhave, puriso araññe pavane caramāno passeyya purāṇaṃ maggaṃ purāṇañjasaṃ pubbakehi manussehi anuyātaṃ. So tamanugaccheyya. Tamanugacchanto passeyya purāṇaṃ nagaraṃ purāṇaṃ rājadhāniṃ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṃ ārāmasampannaṃ vanasampannaṃ pokkharaṇīsampannaṃ uddhāpavantaṃ ramaṇīyaṃ. Atha kho so, bhikkhave, puriso rañño vā rājamahāmattassa vā āroceyya – ‘yagghe, bhante, jāneyyāsi – ahaṃ addasaṃ araññe pavane caramāno purāṇaṃ maggaṃ purāṇañjasaṃ pubbakehi manussehi anuyātaṃ tamanugacchiṃ. Tamanugacchanto addasaṃ purāṇaṃ nagaraṃ purāṇaṃ rājadhāniṃ pubbakehi manussehi ajjhāvuṭṭhaṃ ārāmasampannaṃ vanasampannaṃ pokkharaṇīsampannaṃ uddhāpavantaṃ ramaṇīyaṃ. Taṃ, bhante, nagaraṃ māpehī’ti. Atha kho so, bhikkhave, rājā vā rājamahāmatto vā taṃ nagaraṃ māpeyya. Tadassa nagaraṃ aparena samayena iddhañceva phītañca bāhujaññaṃ ākiṇṇamanussaṃ vuddhivepullappattaṃ. Evameva khvāhaṃ, bhikkhave, addasaṃ purāṇaṃ maggaṃ purāṇañjasaṃ pubbakehi sammāsambuddhehi anuyātaṃ.

-- Này chư Tỳ khưu,  ví như một người khi đi qua một khu rừng thấy một con đường cổ xưa, một đạo lộ từng được sử dụng bởi nhiều người trong quá khứ. Người ấy lần theo con đường tìm đến được một thành phố cổ đại, một cố đô vốn có nhiều cư dân từng sống có công viên, vườn cây, hồ nước, thành luỹ nguy nga. 

Rồi nầy trở về báo với nhà vua hay quan đại thần: “Thưa Ngài, xin biết rằng tôi đã đi qua một khu rừng thấy một con đường cổ xưa, một đạo lộ được sử dụng bởi nhiều người trong quá khứ. Người ấy lần theo con đường tìm đến được một thành phố cổ đại, một cố đô vốn có nhiều cư dân từng sống có công viên, vườn cây, hồ nước, thành luỹ nguy nga.  Hãy cho trùng tu lại thành phố ấy.

Rồi nhà vua hay vị đại thần cho trùng tu thành phố ấy. Sau một thời gian thành phố ấy trở nên sầm uất, thịnh vượng, đông đúc dân cư.

Này chư Tỳ khưu,  tương tự như vậy, ta đã tìm được con đường cũ, đạo lộ cổ xưa mà chư vị chánh đẳng chánh giác thuở xưa đã đi qua.

‘‘Katamo ca so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto? Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṃ – sammādiṭṭhi...pe... sammāsamādhi. Ayaṃ kho so, bhikkhave, purāṇamaggo purāṇañjaso pubbakehi sammāsambuddhehi anuyāto, tamanugacchiṃ; tamanugacchanto jarāmaraṇaṃ abbhaññāsiṃ; jarāmaraṇasamudayaṃ abbhaññāsiṃ; jarāmaraṇanirodhaṃ abbhaññāsiṃ; jarāmaraṇanirodhagāminiṃ paṭipadaṃ abbhaññāsiṃ. Tamanugacchiṃ; tamanugacchanto jātiṃ abbhaññāsiṃ...pe... bhavaṃ abbhaññāsiṃ... upādānaṃ abbhaññāsiṃ... taṇhaṃ abbhaññāsiṃ... vedanaṃ abbhaññāsiṃ... phassaṃ abbhaññāsiṃ... saḷāyatanaṃ abbhaññāsiṃ... nāmarūpaṃ abbhaññāsiṃ... viññāṇaṃ abbhaññāsiṃ. Tamanugacchiṃ; tamanugacchanto saṅkhāre abbhaññāsiṃ; saṅkhārasamudayaṃ abbhaññāsiṃ; saṅkhāranirodhaṃ abbhaññāsiṃ; saṅkhāranirodhagāminiṃ paṭipadaṃ abbhaññāsiṃ. Tadabhiññā ācikkhiṃ bhikkhūnaṃ bhikkhunīnaṃ upāsakānaṃ upāsikānaṃ. Tayidaṃ, bhikkhave, brahmacariyaṃ iddhañceva phītañca vitthārikaṃ bāhujaññaṃ puthubhūtaṃ yāva devamanussehi suppakāsita’’nti.

-- Này chư Tỳ khưu,  thế nào là con đường cũ, đạo lộ cổ xưa mà chư vị chánh đẳng chánh giác thuở xưa đã đi qua? Chính là chánh đạo tám chi phần gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ta đã đi theo con đường ấy nhờ vậy trực nhận được già chết, sự tập khởi của già chết, con đường dẫn đến sự tập khởi của già chết.  Ta trực nhận được sanh… hữu… thủ…ái….thọ …xúc….lục nhập….danh sắc …thức…. hành; sự tập khởi của hành; sự tịch tịnh của hành; con đường đưa đến sự tịch tịnh các hành.

Trực nhận những pháp ấy, Ta đã truyền dạy cho chư tỳ khưu, tỳ khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ. Này chư Tỳ khưu, giáo pháp nầy được viên mãn, hưng thịnh, quảng bá, phổ cập, thiện thuyết giữa chư thiên và nhân loại.

Chú Thích

Bài kinh nầy trình bày giáo lý duyên khởi trong tầm quán chiếu của Đức Phật trước thời điểm thành đạo. Trong cách trình bày khác thì đêm thành đạo của Đức Phật có ba công đoạn. Đầu tiên Ngài với năng lực tam muội định nhớ biết nhiều tiền kiếp xa xưa với đầy đủ chi tiết (túc mạng minh). Công đoạn thứ hai là nhìn thấy những đầu mối liên hệ trong cuộc tử sinh (sanh tử minh). Công đoạn sau cùng là tìm thấy chìa khoá đoạn tận kiết sử, chấm dứt khổ đau. Đích điểm cuối cùng của ba công đoạn quán chiếu ấy là chứng thành nhất thiết chủng trí hay quả vị tối thượng chánh đẳng chánh giác. Những mô tả trong bài kinh này trong một cách khác là quán chiếu duyên khởi. Ở đây không khác với sự quán chiếu của tam minh. Chỉ là hai cách trình bày.

“Trước khi giác ngộ còn là bồ tát - pubbe  sambodhā anabhisambuddhassa bodhisattasseva - chỉ cho thời điểm ba canh trong đêm thành đạo. Sau trọn đêm quán chiếu pháp giới Ngài chứng quả vô thượng chánh giáo lúc rạng đông. Hai điểm lưu ý là: Một là trong trường hợp nầy do quán chiếu duyên khởi dẫn đến đại ngộ chứ không phải giác ngộ rồi mới quán chiếu duyên khởi. Hai là thuật ngữ bồ tát (bodhisatta) được chính Đức Phật sử dụng ở đây mang nghĩa “chúng sanh hướng cầu giác ngộ (nhưng chưa giác ngộ). Rất khác với định nghĩa chữ bồ tát của Phật giáo Đại thừa sau nầy.

Duyên khởi trong bài kinh nầy rất giống với cách trình bày trong kinh Đại Duyên (Mahānidāna), Trường Bộ, với đoạn “danh sắc sanh khởi do duyên thức, thức sanh khởi do duyên danh sắc” được Sớ Giải chú thích là vì đây là sự quán chiếu (minh sát) trực tiếp của bậc Đại Nhân nên chỉ đối với năm uẩn hiện hữu  (pañcavokārabhava) trong lúc hành và vô minh được xem là thuộc về kiếp thứ ba (kiếp khác) không là đối tượng quán chiếu trực tiếp của minh sát tuệ (avijjāsaṅkhārā hi tatiyo bhavo, tehi saddhiṃ ayaṃ vipassanā naghaṭīyati).

Sớ giải chú thích là mệnh đề paccudāvattati kho idaṃviññāṇāṃ nāmarūpamhā na paraṃ gacchati- với thức nầy trở lui không đi xa hơn danh sắc – chỉ cho thức tái sanh và thức thẩm thấu. Cả hai năng tri và sở tri không vượt khỏi danh sắc. Trong cách nói chuyên môn của thiền quán là cái biết cũng là cái cần được biết.

Theo Sớ Giải thì câu “ta đã khám phá ra con đường dẫn đến giác ngộ (adhigato kho myāyaṃ maggo bodhāya) thì con đường là thiền quán minh sát và giác ngộ chỉ cho nhận chân tứ đế trong đó có niết bàn.

Chữ nirodha có thể dịch là sự đoạn tận, chấm dứt, tịch tịnh. Bản dịch linh động vì văn phong có thể hiểu theo nghĩa hẹp nirodha chỉ cho sự chấm dứt trong lúc chữ nầy còn hàm nghĩa niết bàn nên dịch là tịch tịnh.

Con đường cổ xưa -purāṇaṃ maggaṃ - có hai hàm ý: Một là hành trình giải thoát không phải là một sản phẩm tư duy mà là phương các tự nhiên được khám phá bởi những bậc đại trí (Chư Phật) trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Hai, đạo là con đường dẫn đến một đích điểm chứ không phải tạo ra cứu cánh.

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-