BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, 15 tháng 05, 2023

MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN

PHẦN II-PHẬT PHÁP

Bài 34- Thế Nào Là Một Chúng Sanh
 

C. CHÚNG SANH THEO LỤC ĐẠO

Lục đạo, nói dễ hiểu hơn, là sáu nẻo luân hồi gồm trời, người, a tu la, bàng sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Đây là sự phân định theo Phật giáo Bắc Truyền không có trong Tam Tạng Pāli. Những điểm giống và khác biệt cần được lưu ý. Đề tài nầy được đưa vào giáo trình nầy để tham khảo hơn là một chủ đề chính thức.

Lục đạo là sự phân chia chúng sanh các cõi đặc biệt phổ biến sâu rộng trong Phật giáo Mật tông Kim cang thừa hay thường được gọi là Phật giáo Tây Tạng. Điều nầy được minh hoạ qua bánh xe luân hồi rất quen thuộc qua các thangka. Sự khác biệt trong cách phân chia chúng sanh theo lục đạo có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, kể cả Đạo Phật ở Việt Nam. Nhưng nếu đối chiếu với kinh điển Pāli thì có nhiều điều thú vị cần đặc biệt lưu ý. Tính cách nhập nhằng tạo nên những ngộ nhận mà người học Phật cần lưu ý.  Thay vì đi vào từng phần của lục đạo thì nên nêu ra những điểm đáng chú ý qua cái nhìn thường thức thì có thể dễ hiểu hơn. Và đây là cách trình bày không được tìm thấy trong hầu hết kinh sách mà là sự góp nhặt và sắp xếp theo bố cục thích hợp riêng cho đề tài nầy.

Hình: Chúng sinh theo lục đạo

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Chung-sanh-theo-luc-dao.png  

Trước hết nên bắt đầu với a tu la. Trong khái niệm lục đạo của Phật giáo Mật Tông, và trở thành phổ biến chung trong Phật giáo Đại Thừa Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn quốc, Việt Nam…. thì a tu la là một trong sáu cảnh giới sanh tử. Một từ vựng gần với a tu la là những “vị thần” có uy lực nhưng bản chất hung dữ. Sự thờ phượng linh thần là điểu nổi bật trong Phật giáo Mật Tông cũng như phần lớn Phật giáo Đại thừa. “Phật giáo Hy Mã Lạp Sơn” một cách gọi khác của Phật giáo Mật tông phản ánh nên văn hoá ở vùng núi non cao rộng hiểm trở là điều kiện rất tự nhiên để tạo ra sự thờ cúng linh thần.  Sự so sánh về a tu la giữa các tông phái cho thấy những điểm dị đồng thú vị.

Khái niệm về loài a tu la cũng rất thú vị trong Tam Tạng Pāli. Trước hết là trong hầu hết các bài kinh khi nói về khổ cảnh chỉ đề cập có ba là địa ngục (niraya), bàng sanh (tiracchānayoni), ngạ quỷ (pettivisaya). Nên lưu ý là “bốn khổ cảnh (apāyā)” chỉ tìm thấy trong văn học Bổn Sanh (Jataka). Một cách thú vị là đây là nền tảng về bồ tát đạo của Phật giáo Đại Thừa sau nầy.

A tu la được xem là loài hoá sanh bản tính hung dữ có thể thuộc chư thiên, ngạ quỷ, địa ngục chứ không là chủng loại riêng biệt. Trên phương nầy thì chữ asura (a tu la) và yakkha (dạ xoa) phải được hiểu theo ngữ cảnh chứ không mang ý nghĩa chính xác một loài chúng sanh.

Chữ asura theo Sớ Giải thì có nghĩa là “vô tửu (a + sura)” hay không uống rượu. (Câu chuyện kể khởi đầu như chuyện ăn trái cấm trong vường địa đàng của Kinh Cựu Ước). Khởi đầu là chư thiên trên đỉnh Sumeru (tu di sơn) sống thuở “hồng hoang”. Khi Magha Mānavaka sanh lên cùng với 32 vị thiên đẩy phước đức thì những chư thiên khác đố kỵ. Do phiền hà nên uống rượu (sura) nên say sưa và bị những vị thiên hiền thiện đẩy xuống chân núi tu di. Từ đó những vị thiên nầy đồng thề quyết là không bao giờ uống rượu nữa nên có từ asura (vô tửu) trong lúc trên đỉnh Tu Di được gọi là cảnh giới Tāvatimsa (Tam Thập Tam Thiên) hay Đao Lợi. Sau nầy có nhiều cuộc chiến dai dẳng giữa những chư thiên hiền thiện và chư thiên a tu la.

Trong một phân loại khác thì a tu la là loại hung thần trong loài hoá sanh cùng với 5 chủng loại khác là supanna (kiển bà trà), gandhabba (càn thát bà), yakkha (dạ xoa), garuda (kim xí điểu), nāga (long vương) là những chúng sanh trong khổ cảnh nhưng có uy lực.

Nói chung thì trong Tam Tạng Pāli thì A tu la là loà hoá sanh có tánh khí hung hăng có thể là chư thiên, quỷ sứ, ngạ quỷ tương tự như trong những người bạo ác trong loài người có thể nằm trong giai cấp thượng lưu hay trong những thành phần nằm bên lề xã hội. Chính vì thế không được phân riêng thành một hạng chúng sanh.

Chư thiên – deva – trong kinh điển Pāli cũng được dùng mang nhiều ý nghĩa khác nhau tuỳ ngữ cảnh. Có thể nói chung cho hàng hoá sanh có phước dù là phước ít ỏi như thọ thần cho đến các hàng phạm thiên. Tuy nhiên khi phân biệt các hội chúng thì Đức Phật chỉ riêng biệt chư thiên chỉ cho hàng hoá sanh do phước báu trong cõi dục giới; ma vương chỉ cho chư thiên có uy lực nhưng tà ác; phạm thiên chỉ chúng sanh thọ sanh do năng lực thiền định.

Loài người là loại tục sinh bằng tâm quả thiện nhưng có loại phước ít hay phước nhiều. Loài phước kém nhất là sanh ra với khuyết tật bẩm sinh như mù, câm.. Loài sanh ra nhiều phước nhất là loài có trí tuệ.

Ngạ quỷ (pettivisaya) là chúng sanh luôn bị hành hạ bởi sự đói khổ. Một số ít có khả năng biến hiện.

Bàng sanh (tiracchānayoni) có nghĩa là chúng sanh đi với đầu và đuôi ngang nhau phân biệt với loài hai chân. Hình dạn nầy để chỉ đa số.

Địa ngục (niraya) thường được hiểu là cõi khổ nhưng ở đây chỉ cho chúng sanh trong địa ngục. Những chúng sanh nầy chịu vô số khổ hình nhưng không thể chết cho nghiệp lực. Những chúng sanh như diêm vương, quỷ sứ trong địa ngục được kể là chư thiên hoặc a tu la.

Một điều cần đặc biệt lưu ý là cõi (bhūmi) trong Phật học không quy định bởi ranh phận không gian. Trên mặt đất có nhiều chủng loại cùng sống. Một số cõi trời cũng có bàng sanh sống.

Đề tài 12 hạng người theo Thắng Pháp là góc nhìn khác rất cần biết về sự phân loại chúng sanh theo Phật học.

Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-