|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 20 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 67. NƯƠNG NHAU MÀ TỒN TẠI. Kinh Những Bó Lau (Naḷakalāpīsuttaṃ).
Người ta nói
những người làm chính trị dẫn dắt quần chúng mà cũng chạy
theo xu thế của quần chúng. Thoạt nghe như mâu thuẫn như đó
là sự thật trong xã hội. Giáo lý duyên khởi dạy rõ bản chất
nương nhau mà sanh khởi, nương nhau mà tồn tại. Đó cũng là
lý do từ những mấu chốt cực vi là tạo thành một thế giới
trầm luân đau khổ. Chỉ một ái chấp có thể dẫn đến sự hình
thành một thế giới. Một duyên khởi chấm dứt như hai bó lau
tựa vào nhau mà lấy đi một thì bó kia cũng ngã và có thể dẫn
đến sự chấp dứt tất cả khổ đau. Điều nầy tạo nên ý nhị của
câu: Có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian nầy cũng
không”.
Ekaṃ samayaṃ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko
bārāṇasiyaṃ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā
mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā
sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena
saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko
āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca – ‘‘kiṃ nu kho, āvuso
sāriputta, sayaṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, paraṃkataṃ jarāmaraṇaṃ,
sayaṃkatañca paraṃkatañca jarāmaraṇaṃ, udāhu asayaṃkāraṃ
aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ jarāmaraṇa’’nti? ‘‘Na kho,
āvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, na paraṃkataṃ
jarāmaraṇaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca jarāmaraṇaṃ, nāpi
asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ jarāmaraṇaṃ. Api
ca, jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti.
Một thuở Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú ở Bārāṇasī (Ba lanại),
chỗ Migādāya (Lộc Uyển) tại Isipatana (Chư Tiên Đọa Xứ).
Bấy giờ Tôn giả Mahākoṭṭhita vào buổi chiều từ chỗ độc cư thiền tịnh đứng dậy đi đến Tôn giả Sāriputta.
Sau khi đến vị ấy trao đổi với Tôn giả Sāriputta những lời thăm hỏi thân thiện rồi ngồi xuống một bên.
Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng già chết do tự mình tạo;
già chết do người khác tạo; già chết do tự mình và người khác tạo;
hay già chết chẳng phải ngẫu nhiên sanh không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?
-- Này Hiền giả Koṭṭhita, già chết chẳng phải do tự mình tạo;
già chết chẳng phải do người khác tạo; già chết chẳng phải do tự mình và người khác tạo;
già chết chẳng phải ngẫu nhiên có không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo.
Có già chết
vì có sanh.
‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṃkatā jāti, paraṃkatā
jāti, sayaṃkatā ca paraṃkatā ca jāti, udāhu asayaṃkārā
aparaṃkārā adhiccasamuppannā jātī’’ti? ‘‘Na kho, āvuso
koṭṭhika, sayaṃkatā jāti, na paraṃkatā jāti, na sayaṃkatā ca
paraṃkatā ca jāti, nāpi asayaṃkārā aparaṃkārā
adhiccasamuppannā jāti. Api ca, bhavapaccayā jātī’’ti.
-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng sanh do tự mình tạo; sanh do người khác tạo;
sanh do tự mình và người khác tạo;
hay sanh chẳng phải ngẫu nhiên sanh không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?
-- Này Hiền giả Koṭṭhita, sanh chẳng phải do tự mình tạo;
sanh chẳng phải do người khác tạo; sanh chẳng phải do tự mình
và người khác tạo; sanh chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo..
Có sanh vì có hữu
‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṃkato bhavo...pe...
sayaṃkataṃ upādānaṃ... sayaṃkatā taṇhā... sayaṃkatā
vedanā... sayaṃkato phasso... sayaṃkataṃ saḷāyatanaṃ...
sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, sayaṃkatañca
paraṃkatañca nāmarūpaṃ, udāhu asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ
adhiccasamuppannaṃ nāmarūpa’’nti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika,
sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, na paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, na
sayaṃkatañca paraṃkatañca nāmarūpaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ
aparaṃkāraṃ, adhiccasamuppannaṃ nāmarūpaṃ. Api ca,
viññāṇapaccayā nāmarūpa’’nti.
-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng hữu do mình tự tạo ? phải chăng thủ do tự mình tạo...? phải chăng ái do tự mình tạo...?
phải chăng thọ do tự mình tạo...? phải chăng xúc do tự mình tạo...?
phải chăng lục nhập do tự mình tạo...?
-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng danh sắc do tự mình
tạo; danh sắc do người khác tạo;
danh sắc do tự mình và người khác tạo; hay danh sắc
chẳng phải ngẫu nhiên danh sắc không do tự mình tạo mà cũng
không do người khác tạo?
-- Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc chẳng phải do tự mình
tạo; danh sắc chẳng phải do người khác tạo;
danh sắc chẳng phải do tự mình và người khác tạo;
danh sắc chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo
cũng không do người khác tạo.
Có danh sắc do có thức
‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṃ viññāṇaṃ,
paraṅkataṃ viññāṇaṃ, sayaṃkatañca paraṃkatañca viññāṇaṃ,
udāhu asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ
viññāṇa’’nti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ viññāṇaṃ,
na paraṃkataṃ viññāṇaṃ na sayaṃkatañca paraṃkatañca
viññāṇaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ
viññāṇaṃ. Api ca, nāmarūpapaccayā viññāṇa’’nti. -- Này Hiền
giả Sāriputta,
phải
chăng thức do tự mình tạo; thức do người khác tạo;
thức do tự mình và người khác tạo; hay thức chẳng
phải ngẫu nhiên thức không do tự mình tạo mà cũng không do
người khác tạo?
-- Này Hiền
giả Koṭṭhita, thức chẳng phải do tự mình tạo; thức chẳng
phải do người khác tạo;
thức chẳng phải do tự mình và người khác tạo; thức
chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không
do người khác tạo.
Có thức do có danh sắc
‘‘Idāneva kho mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ evaṃ
ājānāma – ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, na
paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca
nāmarūpaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ
nāmarūpaṃ. Api ca, viññāṇapaccayā nāmarūpa’’’nti.
‘‘Idāneva ca pana mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ
evaṃ ājānāma – ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ viññāṇaṃ,
na paraṃkataṃ viññāṇaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca
viññāṇaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ
viññāṇaṃ. Api ca, nāmarūpapaccayā viññāṇa’’’nti.
‘‘Yathā kathaṃ panāvuso sāriputta, imassa bhāsitassa attho
daṭṭhabbo’’ti?
-- Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như
sau: “Này
Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc chẳng phải do tự mình tạo; danh
sắc chẳng phải do người khác tạo;
danh sắc chẳng phải do tự mình và người khác tạo;
danh sắc chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo
cũng không do người khác tạo.
Có danh sắc do có thức”.
Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: "Này Hiền giả Koṭṭhita, thức chẳng phải
do tự mình tạo; thức chẳng phải do người khác tạo;
thức chẳng phải do tự mình và người khác tạo; thức
chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không
do người khác tạo.
Có thức do có danh sắc”.
-- Này Hiền giả Sāriputta, ý nghĩa của những lời nói nên
được hiểu thế nào?
‘‘Tenahāvuso, upamaṃ te karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū
purisā bhāsitassa atthaṃ jānanti. Seyyathāpi, āvuso, dve
naḷakalāpiyo aññamaññaṃ nissāya tiṭṭheyyuṃ. Evameva kho,
āvuso, nāmarūpapaccayā viññāṇaṃ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ;
nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ; saḷāyatanapaccayā
phasso...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
samudayo hoti. Tāsaṃ ce, āvuso, naḷakalāpīnaṃ ekaṃ
ākaḍḍheyya, ekā papateyya; aparaṃ ce ākaḍḍheyya, aparā
papateyya. Evameva kho, āvuso, nāmarūpanirodhā
viññāṇanirodho; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho;
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho; saḷāyatananirodhā
phassanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa
nirodho hotī’’ti. ‘‘Acchariyaṃ, āvuso sāriputta; abbhutaṃ,
āvuso sāriputta! Yāvasubhāsitaṃ cidaṃ āyasmatā sāriputtena.
Idañca pana mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ imehi
chattiṃsāya vatthūhi anumodāma – ‘jarāmaraṇassa ce, āvuso,
bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṃ deseti,
dhammakathiko bhikkhūti alaṃ vacanāya. Jarāmaraṇassa ce,
āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti,
dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṃ vacanāya.
Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā
anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti
alaṃ vacanāya. Jātiyā ce... bhavassa ce... upādānassa ce...
taṇhāya ce... vedanāya ce... phassassa ce... saḷāyatanassa
ce... nāmarūpassa ce... viññāṇassa ce... saṅkhārānaṃ ce...
avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya
dhammaṃ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṃ vacanāya.
Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya
paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṃ
vacanāya. Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā
anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti
alaṃ vacanāyā’’’ti.
-- Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ,
người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền
giả,
do có
danh sắc nên có thức; do có thức nên có danh sắc. Do
có danh sắc nên có lục nhập; do có lục nhập nên có xúc ….
Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.
Này Hiển giả, nếu có một người lấy đi một bó lau thì bó kia
ngã xuống. Cũng vậy, do danh sắc diệt nên thức diệt; do thức
diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên lục nhập diệt;
do lục nhập diệt nên xúc diệt…. Như vậy là sự chấm dứt của
toàn bộ khổ uẩn.
-- Thật vi diệu, Hiền giả Sāriputta! Thật
tuyệt vời, Hiền giả
Sāriputta!
Sự trình bày của Hiền giả quả là khéo léo. Chúng tôi xin tuỳ
hỷ lời giảng dạy của Tôn giả về ba mươi cơ sở.
Nếu một vị tỳ khưu thuyết pháp với mục đích nhàm chán, ly
tham, đoạn tận già chết thì đúng nghĩa là tỳ khưu thuyết
pháp. Nếu một vị tỳ khưu tu tập với mục đích nhàm chán, ly
tham, đoạn tận già chết thì đúng nghĩa là tỳ khưu tu tập
đúng pháp. Nếu một vị tỳ khưu chuyển hoá với mục đích nhàm
chán, ly tham, đoạn tận già chết vị ấy vượt thoát bởi không
chấp thủ thì đúng nghĩa là vị chứng niết bàn trong kiếp hiện
tại.
Nếu một vị tỳ khưu thuyết pháp với mục đích nhàm chán, ly
tham, đoạn tận
sanh …hữu… thủ…ái...thọ…xúc…lục
nhập…danh sắc…thức… hành….vô minh
thì đúng nghĩa là tỳ khưu thuyết pháp. Nếu một vị tỳ khưu tu
tập với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết thì
đúng nghĩa là tỳ khưu tu tập đúng pháp. Nếu một vị tỳ khưu
chuyển hoá với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già
chết vị ấy vượt thoát bởi không chấp thủ thì đúng nghĩa là
vị chứng niết bàn trong kiếp hiện tại.
Chú Thích
Tôn giả Mahā Kotthika
(Ma ha Câu Hy La) là một trong những đại đệ tử của Đức Phật
được Bậc Đạo Sư tuyên bố là đệ nhất tuệ phân tích
(patisambhidappattānam). Xuất thân từ gia đình bà la môn
danh tiếng tại Sāvatthi, cha là
Assalāyana và mẹ là
Candavatī đều là những người có địa vị cao trọng. Trước khi
xuất gia theo Đức Phật Tôn giả Mahā Kotthika được biết là
một nhà bác lãm Tam Phệ Đà. Kinh Tạng ghi lại nhiều bài kinh
có nội dung đàm luận mà Tôn giả Mahā Kotthika là người nêu
câu hỏi và Tôn giả Sāriputta là người trả lời. Theo một số
học giả thì những tác phẩm trong Tam Tạng mang hình thức vấn
đáp là sự kết hợp giữa hai bậc cao đức nầy. Bởi vì cả hai
đều là bậc A la hán với tuệ phân tích nên những câu hỏi chỉ
là nêu ra để trình bày cho đại chúng được nghe chứ không
phải là nghi vấn cá nhân.
Bốn tiền đề: do chính mình, do người khác, do cả hai, hoặc
không do ai cả nằm trong chấp thủ thường kiến, đoạn kiến,
một phần thường kiến và thuyết ngẫu nhiên.
Theo Sớ Giải của một bài kinh trước cũng thuộc thiên nhân
duyên thì có sự tương tác giữa thức và danh sắc. Thức duyên
danh sắc mà danh sắc cũng duyên thức. Danh sắc ở đây là cảnh
bao gồm cả vật chất và phi vật chất. Thức ở đây là sự nhận
biết. Cảnh duyên cho tâm mà tâm cũng tác động định hình đối
với cảnh. Đây là một trọng điểm trong dòng lịch sử tư tưởng
của Phật giáo phát triển hậu thời. Kinh điển Pāli nêu rõ vai
trò của cả hai nhận thức và đối tượng nhận thức (tâm vả
cảnh). Không có quan hệ một chiều hay tồn tại độc lập.
36 cơ sở chỉ cho 12 nhân duyên theo ba phương diện pháp học,
pháp hành, và pháp thành.
Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |