BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 20 tháng 05, 2023

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

Tập II – Thiên Nhân Duyên. Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c) - Đại Phẩm Thứ Bảy (S.ii, 112).

Bài 67. NƯƠNG NHAU MÀ TỒN TẠI. Kinh Những Bó Lau (Naḷakalāpīsuttaṃ).

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

 

Người ta nói những người làm chính trị dẫn dắt quần chúng mà cũng chạy theo xu thế của quần chúng. Thoạt nghe như mâu thuẫn như đó là sự thật trong xã hội. Giáo lý duyên khởi dạy rõ bản chất nương nhau mà sanh khởi, nương nhau mà tồn tại. Đó cũng là lý do từ những mấu chốt cực vi là tạo thành một thế giới trầm luân đau khổ. Chỉ một ái chấp có thể dẫn đến sự hình thành một thế giới. Một duyên khởi chấm dứt như hai bó lau tựa vào nhau mà lấy đi một thì bó kia cũng ngã và có thể dẫn đến sự chấp dứt tất cả khổ đau. Điều nầy tạo nên ý nhị của câu: Có thì có tự mảy may, không thì cả thế gian nầy cũng không”.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Ekaṃ samayaṃ āyasmā ca sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhiko bārāṇasiyaṃ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca – ‘‘kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, paraṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, sayaṃkatañca paraṃkatañca jarāmaraṇaṃ, udāhu asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ jarāmaraṇa’’nti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, na paraṃkataṃ jarāmaraṇaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca jarāmaraṇaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ jarāmaraṇaṃ. Api ca, jātipaccayā jarāmaraṇa’’nti.

Một thuở Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú ở Bārāṇasī (Ba lanại), chỗ Migādāya (Lộc Uyển) tại Isipatana (Chư Tiên Đọa Xứ).

Bấy giờ Tôn giả Mahākoṭṭhita  vào buổi chiều từ chỗ độc cư thiền tịnh đứng dậy  đi đến Tôn giả Sāriputta.  Sau khi đến vị ấy trao đổi với Tôn giả Sāriputta những lời thăm hỏi thân thiện rồi ngồi xuống một bên.

Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:

-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng già chết do tự mình tạo; già chết do người khác tạo; già chết do tự mình và người khác tạo; hay già chết chẳng phải ngẫu nhiên sanh không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?

-- Này Hiền giả Koṭṭhita, già chết chẳng phải do tự mình tạo; già chết chẳng phải do người khác tạo; già chết chẳng phải do tự mình và người khác tạo; già chết chẳng phải ngẫu nhiên có không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo.

Có già chết vì có sanh.

‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṃkatā jāti, paraṃkatā jāti, sayaṃkatā ca paraṃkatā ca jāti, udāhu asayaṃkārā aparaṃkārā adhiccasamuppannā jātī’’ti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṃkatā jāti, na paraṃkatā jāti, na sayaṃkatā ca paraṃkatā ca jāti, nāpi asayaṃkārā aparaṃkārā adhiccasamuppannā jāti. Api ca, bhavapaccayā jātī’’ti.

-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng sanh do tự mình tạo; sanh do người khác tạo; sanh do tự mình và người khác tạo; hay sanh chẳng phải ngẫu nhiên sanh không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?

-- Này Hiền giả Koṭṭhita, sanh chẳng phải do tự mình tạo; sanh chẳng phải do người khác tạo; sanh chẳng phải do tự mình và người khác tạo; sanh chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo..

Có sanh vì có hữu.

‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṃkato bhavo...pe... sayaṃkataṃ upādānaṃ... sayaṃkatā taṇhā... sayaṃkatā vedanā... sayaṃkato phasso... sayaṃkataṃ saḷāyatanaṃ... sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, sayaṃkatañca paraṃkatañca nāmarūpaṃ, udāhu asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ nāmarūpa’’nti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, na paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca nāmarūpaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ, adhiccasamuppannaṃ nāmarūpaṃ. Api ca, viññāṇapaccayā nāmarūpa’’nti.

-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng hữu do mình tự tạo ? phải chăng thủ do tự mình tạo...? phải chăng ái do tự mình tạo...? phải chăng thọ do tự mình tạo...? phải chăng xúc do tự mình tạo...? phải chăng lục nhập do tự mình tạo...?

-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng danh sắc do tự mình tạo; danh sắc do người khác tạo;  danh sắc do tự mình và người khác tạo; hay danh sắc chẳng phải ngẫu nhiên danh sắc không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?

-- Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc chẳng phải do tự mình tạo; danh sắc chẳng phải do người khác tạo;  danh sắc chẳng phải do tự mình và người khác tạo; danh sắc chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo.

Có danh sắc do có thức

‘‘Kiṃ nu kho, āvuso sāriputta, sayaṅkataṃ viññāṇaṃ, paraṅkataṃ viññāṇaṃ, sayaṃkatañca paraṃkatañca viññāṇaṃ, udāhu asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ viññāṇa’’nti? ‘‘Na kho, āvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ viññāṇaṃ, na paraṃkataṃ viññāṇaṃ na sayaṃkatañca paraṃkatañca viññāṇaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ. Api ca, nāmarūpapaccayā viññāṇa’’nti.

-- Này Hiền giả Sāriputta, phải chăng thức do tự mình tạo; thức do người khác tạo;  thức do tự mình và người khác tạo; hay thức chẳng phải ngẫu nhiên thức không do tự mình tạo mà cũng không do người khác tạo?

-- Này Hiền giả Koṭṭhita, thức chẳng phải do tự mình tạo; thức chẳng phải do người khác tạo;  thức chẳng phải do tự mình và người khác tạo; thức chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo.

Có thức do có danh sắc

‘‘Idāneva kho mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ evaṃ ājānāma – ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ nāmarūpaṃ, na paraṃkataṃ nāmarūpaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca nāmarūpaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ nāmarūpaṃ. Api ca, viññāṇapaccayā nāmarūpa’’’nti.

‘‘Idāneva ca pana mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ evaṃ ājānāma – ‘na khvāvuso koṭṭhika, sayaṃkataṃ viññāṇaṃ, na paraṃkataṃ viññāṇaṃ, na sayaṃkatañca paraṃkatañca viññāṇaṃ, nāpi asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ adhiccasamuppannaṃ viññāṇaṃ. Api ca, nāmarūpapaccayā viññāṇa’’’nti.

‘‘Yathā kathaṃ panāvuso sāriputta, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo’’ti?

-- Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: “Này Hiền giả Koṭṭhita, danh sắc chẳng phải do tự mình tạo; danh sắc chẳng phải do người khác tạo;  danh sắc chẳng phải do tự mình và người khác tạo; danh sắc chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo. Có danh sắc do có thức”.

Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sāriputta như sau: "Này Hiền giả Koṭṭhita, thức chẳng phải do tự mình tạo; thức chẳng phải do người khác tạo;  thức chẳng phải do tự mình và người khác tạo; thức chẳng phải ngẫu nhiên có mà không do tự mình tạo cũng không do người khác tạo. Có thức do có danh sắc”.

-- Này Hiền giả Sāriputta, ý nghĩa của những lời nói nên được hiểu thế nào?

‘‘Tenahāvuso, upamaṃ te karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṃ jānanti. Seyyathāpi, āvuso, dve naḷakalāpiyo aññamaññaṃ nissāya tiṭṭheyyuṃ. Evameva kho, āvuso, nāmarūpapaccayā viññāṇaṃ; viññāṇapaccayā nāmarūpaṃ; nāmarūpapaccayā saḷāyatanaṃ; saḷāyatanapaccayā phasso...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Tāsaṃ ce, āvuso, naḷakalāpīnaṃ ekaṃ ākaḍḍheyya, ekā papateyya; aparaṃ ce ākaḍḍheyya, aparā papateyya. Evameva kho, āvuso, nāmarūpanirodhā viññāṇanirodho; viññāṇanirodhā nāmarūpanirodho; nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodho; saḷāyatananirodhā phassanirodho...pe... evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī’’ti. ‘‘Acchariyaṃ, āvuso sāriputta; abbhutaṃ, āvuso sāriputta! Yāvasubhāsitaṃ cidaṃ āyasmatā sāriputtena. Idañca pana mayaṃ āyasmato sāriputtassa bhāsitaṃ imehi chattiṃsāya vatthūhi anumodāma – ‘jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṃ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṃ vacanāya. Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṃ vacanāya. Jarāmaraṇassa ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṃ vacanāya. Jātiyā ce... bhavassa ce... upādānassa ce... taṇhāya ce... vedanāya ce... phassassa ce... saḷāyatanassa ce... nāmarūpassa ce... viññāṇassa ce... saṅkhārānaṃ ce... avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya dhammaṃ deseti, dhammakathiko bhikkhūti alaṃ vacanāya. Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidāya virāgāya nirodhāya paṭipanno hoti, dhammānudhammappaṭipanno bhikkhūti alaṃ vacanāya. Avijjāya ce, āvuso, bhikkhu nibbidā virāgā nirodhā anupādā vimutto hoti, diṭṭhadhammanibbānappatto bhikkhūti alaṃ vacanāyā’’’ti.

-- Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói. Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do có  danh sắc nên có thức; do có thức nên có danh sắc. Do có danh sắc nên có lục nhập; do có lục nhập nên có xúc …. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn.

Này Hiển giả, nếu có một người lấy đi một bó lau thì bó kia ngã xuống. Cũng vậy, do danh sắc diệt nên thức diệt; do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên lục nhập diệt; do lục nhập diệt nên xúc diệt…. Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khổ uẩn.

-- Thật vi diệu, Hiền giả Sāriputta! Thật tuyệt vời, Hiền giả Sāriputta! Sự trình bày của Hiền giả quả là khéo léo. Chúng tôi xin tuỳ hỷ lời giảng dạy của Tôn giả về ba mươi cơ sở.

Nếu một vị tỳ khưu thuyết pháp với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết thì đúng nghĩa là tỳ khưu thuyết pháp. Nếu một vị tỳ khưu tu tập với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết thì đúng nghĩa là tỳ khưu tu tập đúng pháp. Nếu một vị tỳ khưu chuyển hoá với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết vị ấy vượt thoát bởi không chấp thủ thì đúng nghĩa là vị chứng niết bàn trong kiếp hiện tại.

Nếu một vị tỳ khưu thuyết pháp với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận sanh …hữu… thủ…ái...thọ…xúc…lục nhập…danh sắc…thức… hành….vô minh thì đúng nghĩa là tỳ khưu thuyết pháp. Nếu một vị tỳ khưu tu tập với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết thì đúng nghĩa là tỳ khưu tu tập đúng pháp. Nếu một vị tỳ khưu chuyển hoá với mục đích nhàm chán, ly tham, đoạn tận già chết vị ấy vượt thoát bởi không chấp thủ thì đúng nghĩa là vị chứng niết bàn trong kiếp hiện tại.

Chú Thích

Tôn giả Mahā Kotthika (Ma ha Câu Hy La) là một trong những đại đệ tử của Đức Phật được Bậc Đạo Sư tuyên bố là đệ nhất tuệ phân tích (patisambhidappattānam). Xuất thân từ gia đình bà la môn danh tiếng tại Sāvatthi, cha là  Assalāyana và mẹ là Candavatī đều là những người có địa vị cao trọng. Trước khi xuất gia theo Đức Phật Tôn giả Mahā Kotthika được biết là một nhà bác lãm Tam Phệ Đà. Kinh Tạng ghi lại nhiều bài kinh có nội dung đàm luận mà Tôn giả Mahā Kotthika là người nêu câu hỏi và Tôn giả Sāriputta là người trả lời. Theo một số học giả thì những tác phẩm trong Tam Tạng mang hình thức vấn đáp là sự kết hợp giữa hai bậc cao đức nầy. Bởi vì cả hai đều là bậc A la hán với tuệ phân tích nên những câu hỏi chỉ là nêu ra để trình bày cho đại chúng được nghe chứ không phải là nghi vấn cá nhân.

Bốn tiền đề: do chính mình, do người khác, do cả hai, hoặc không do ai cả nằm trong chấp thủ thường kiến, đoạn kiến, một phần thường kiến và thuyết ngẫu nhiên.

Theo Sớ Giải của một bài kinh trước cũng thuộc thiên nhân duyên thì có sự tương tác giữa thức và danh sắc. Thức duyên danh sắc mà danh sắc cũng duyên thức. Danh sắc ở đây là cảnh bao gồm cả vật chất và phi vật chất. Thức ở đây là sự nhận biết. Cảnh duyên cho tâm mà tâm cũng tác động định hình đối với cảnh. Đây là một trọng điểm trong dòng lịch sử tư tưởng của Phật giáo phát triển hậu thời. Kinh điển Pāli nêu rõ vai trò của cả hai nhận thức và đối tượng nhận thức (tâm vả cảnh). Không có quan hệ một chiều hay tồn tại độc lập.

36 cơ sở chỉ cho 12 nhân duyên theo ba phương diện pháp học, pháp hành, và pháp thành.

Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.

-ooOoo-