|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 27 tháng 05, 2023 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 70. NHỜ TRỘM PHÁP MÀ ĐẮC PHÁP. Kinh Susima (Susimasuttaṃ).
Cuộc tu là hành
trình không mang kiểu mẫu nhất định. Có người khởi sự rất
tốt nhưng bỏ cuộc nữa chừng. Có người đi tu với động lực tầm
thường nhưng cuối cùng được tiếp xúc với chánh pháp và có
thành tựu lớn. Quan trọng là cơ duyên được nghe, được hiểu
và thực hành chánh pháp. Thế mới biết là “chuyên ai thì nấy
biết”. Tất cả những suy luận và phê bình đối với người khác,
thậm chí đối với bản thân, thường không chính xác. Quá khứ
vốn mù mờ, nói gì đến chung cuộc mai hậu.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati
veḷuvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena bhagavā
sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito lābhī
cīvara-piṇḍapāta-
senāsana-gilānappaccaya-bhesajjaparikkhārānaṃ.
Bhikkhusaṅghopi sakkato hoti garukato mānito pūjito apacito
lābhī
cīvara-piṇḍapāta-senāsanagilānappaccaya-bhesajjaparikkhārānaṃ.
Aññatitthiyā pana paribbājakā asakkatā honti agarukatā
amānitā apūjitā anapacitā, na lābhino cīvara-piṇḍapāta-
senāsanagilānappaccaya-bhesajjaparikkhārānaṃ.
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha (Vương Xá), tại Veḷuvana
(Trúc Lâm), nơi
Kalandakanivāpa (khu vực cho sóc ăn).
Lúc bấy giờ Thế Tôn được kính mộ,
tôn quý, xưng tán, lễ bái, cúng dường và nhận được dâng cúng
nhu yếu như y áo, ẩm thực, trú xứ và dược phẩm. Chư Tỳ
khưu Tăng cũng kính mộ, tôn quý,
xưng tán, lễ bái, cúng dường và nhận được dâng cúng nhu yếu
như y áo, ẩm thực, trú xứ và dược phẩm.
Trong lúc đó thì các du sĩ ngoại giáo không nhận được sự
kính mộ, tôn quý, xưng tán, lễ bái, cúng dường và nhận được
dâng cúng nhu yếu như y áo, ẩm thực, trú xứ và dược phẩm.
Tena kho pana samayena susimo paribbājako rājagahe
paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṃ. Atha kho
susimassa paribbājakassa parisā susimaṃ paribbājakaṃ
etadavocuṃ – ‘‘ehi tvaṃ, āvuso susima, samaṇe gotame
brahmacariyaṃ cara. Tvaṃ dhammaṃ pariyāpuṇitvā amhe
vāceyyāsi. Taṃ mayaṃ dhammaṃ pariyāpuṇitvā gihīnaṃ
bhāsissāma. Evaṃ mayampi sakkatā bhavissāma garukatā mānitā
pūjitā apacitā lābhino cīvara
-
piṇḍapātasenāsana-gilānappaccaya-bhesajjaparikkhārāna’’nti. -‘‘Evamāvuso’’ti kho susimo paribbājako sakāya parisāya paṭissuṇitvā
yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā
ānandena saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ
vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho susimo
paribbājako āyasmantaṃ ānandaṃ etadavoca – ‘‘icchāmahaṃ,
āvuso ānanda, imasmiṃ dhammavinaye brahmacariyaṃ
caritu’’nti.
Bấy giờ du sĩ Susīma trú ở Rājagaha cùng với một số đông các
du sĩ.
Rồi hội chúng nói với du sĩ Susīma:
-- Hiền giả Susīma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới
sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Sau khi được pháp xong hãy
nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng
tôi sẽ thuyết giảng cho các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ
được kính mộ, tôn quý, xưng tán, lễ bái, cúng dường và nhận
được dâng cúng nhu yếu như y áo, ẩm thực, trú xứ và dược
phẩm.
Du sĩ Susīma trả lời:
-- Vậy được, các Hiền giả.
Rời Susīma đi đến Tôn giả Ānanda sau khi thăm hỏi, trao đổi
những lời xã giao thân thiện ngồi xuống một bên và nói rằng:
-- Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống phạm hạnh trong Pháp
và Luật này.
Atha kho āyasmā ānando susimaṃ paribbājakaṃ ādāya yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā ānando
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘ayaṃ, bhante, susimo paribbājako
evamāha – ‘icchāmahaṃ, āvuso ānanda, imasmiṃ dhammavinaye
brahmacariyaṃ caritu’’nti. ‘‘Tenahānanda, susimaṃ
pabbājethā’’ti. Alattha kho susimo paribbājako bhagavato
santike pabbajjaṃ, alattha upasampadaṃ.
Tôn giả Ānanda đưa du sĩ Susīma đi đến diện kiến Đức Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ và ngồi xuống một bên.
Tôn giả Ānanda bạch rằng:
-- Bạch Đức Thế Tôn, du sĩ Susīma
nói rằng: "Này Hiền giả Ānanda, tôi muốn sống phạm
hạnh trong Pháp và Luật này".
-- Vậy này Ānanda, hãy cho Susīma xuất gia.
Và du sĩ Susīma được xuất gia thọ đại giới từ Đức Thế Tôn.
Tena kho pana samayena sambahulehi bhikkhūhi bhagavato
santike aññā byākatā hoti – ‘‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyāti
pajānāmā’’ti. Assosi kho āyasmā susimo – ‘‘sambahulehi kira
bhikkhūhi bhagavato santike aññā byākatā – ‘khīṇā jāti,
vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ, nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānāmā’’ti. Atha kho āyasmā susimo yena te
bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā tehi bhikkhūhi saddhiṃ
sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā susimo te bhikkhū
etadavoca – ‘‘saccaṃ kirāyasmantehi bhagavato santike aññā
byākatā – ‘khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāmā’’ti?
‘‘Evamāvuso’’ti.
Thuở ấy có một nhóm nhiều tỳ khưu trước mặt Thế Tôn tuyên bố
tuệ giác: "Chúng con biết rõ : 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
Tôn giả Susīma được nghe vậy nên đến gặp các tỳ khưu, Sau
khi thăm hỏi, trao đổi những lời xã giao thân thiện ngồi
xuống một bên và nói rằng:
-- Phải chăng chư tôn giả trước mặt Đức Thế Tôn tuyên bố tuệ
giác: "Chúng con biết rõ : 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
-- Đúng vậy, này Hiền giả.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā
anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhotha – ekopi hutvā bahudhā
hotha, bahudhāpi hutvā eko hotha; āvibhāvaṃ, tirobhāvaṃ,
tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamānā gacchatha,
seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karotha,
seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāne gacchatha, seyyathāpi pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamatha, seyyathāpi pakkhī
sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve
pāṇinā parimasatha parimajjatha, yāva brahmalokāpi kāyena
vasaṃ vattethā’’ti? ‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā
dibbāya sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho
sadde suṇātha dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā’’ti?
‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
-- Chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy phải chăng đã đắc chứng
nhiều loại thần lực khác nhau: hoá một thân thành nhiều
thân; từ nhiều thân hoá một thân; đi ngang vách tường; xuyên
núi như đi vào khoảng không; độn thổ như lặng trong nước; đi
trên mặt nước như di chuyển trên mặt đất không bị chìm; ngồi
kiết già phi hành trên hư không như chim; với bàn tay chạm
được mặt trời, mặt trăng cực lớn và nhiều mãnh lực; có thể
sử dụng thân thiện xảo đi tới phạm thiên giới.
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
-- Như vậy chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy phải chăng đã đắc
chứng thiên nhỉ thông thuần tịnh siêu nhân có thể nghe được
tiếng xa hoặc gần của chư thiên và nhân loại?
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā
parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānātha –
sarāgaṃ vā cittaṃ sarāgaṃ cittanti pajānātha; vītarāgaṃ vā
cittaṃ vītarāgaṃ cittanti pajānātha; sadosaṃ vā cittaṃ
sadosaṃ cittanti pajānātha; vītadosaṃ vā cittaṃ vītadosaṃ
cittanti pajānātha; samohaṃ vā cittaṃ samohaṃ cittanti
pajānātha; vītamohaṃ vā cittaṃ vītamohaṃ cittanti pajānātha;
saṃkhittaṃ vā cittaṃ saṃkhittaṃ cittanti pajānātha;
vikkhittaṃ vā cittaṃ vikkhittaṃ cittanti pajānātha;
mahaggataṃ vā cittaṃ mahaggataṃ cittanti pajānātha;
amahaggataṃ vā cittaṃ amahaggataṃ cittanti pajānātha;
sauttaraṃ vā cittaṃ sauttaraṃ cittanti pajānātha; anuttaraṃ
vā cittaṃ anuttaraṃ cittanti pajānātha; samāhitaṃ vā cittaṃ
samāhitaṃ cittanti pajānātha; asamāhitaṃ vā cittaṃ
asamāhitaṃ cittanti pajānātha; vimuttaṃ vā cittaṃ vimuttaṃ
cittanti pajānātha; avimuttaṃ vā cittaṃ avimuttaṃ cittanti
pajānāthā’’ti? ‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
-- Chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy phải chăng có khả năng
biết tâm người khác với tâm của mình: tâm có tham biết tâm
tham; tâm có sân biết tâm sân; tâm có si biết tâm si; tâm
không tham biết tâm vô tham; tâm không sân biết tâm vô sân;
tâm không si biết tâm vô si; tâm tập chú biết tâm tập chú;
tâm tán loạn biết tâm tán loạn; tâm đại hành biết tâm đại
hành; tâm vô thượng biết tâm vô thượng; tâm an chỉ biết tâm
an chỉ; tâm giải thoát biết tâm giải thoát; tâm không giải
thoát biết tâm không giải thoát?
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā
anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussaratha, seyyathidaṃ – ekampi
jātiṃ dvepi jātiyo tissopi jātiyo catassopi jātiyo pañcapi
jātiyo dasapi jātiyo vīsampi jātiyo tiṃsampi jātiyo
cattārīsampi jātiyo paññāsampi jātiyo jātisatampi
jātisahassampi jātisatasahassampi, anekepi saṃvaṭṭakappe
anekepi vivaṭṭakappe anekepi saṃvaṭṭavivaṭṭakappe –
‘amutrāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo evamāhāro
evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so tato cuto
amutra udapādiṃ; tatrāpāsiṃ evaṃnāmo evaṃgotto evaṃvaṇṇo
evamāhāro evaṃsukhadukkhapaṭisaṃvedī evamāyupariyanto, so
tato cuto idhūpapanno’ti. Iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarathā’’ti? ‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
-- Chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy
phải chăng có khả năng nhớ được nhiều kiếp quá khứ: một đời,
hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời,
ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai
trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp,
nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Nhớ biết rõ:
"Tại chỗ kia ta có
tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này,
thực phẩm như thế nầy, vui khổ như thế này, tuổi thọ như thế
này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ.
Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,
thực phẩm như thế
nầy, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được
sanh ra ở đây". Như vậy, chư Tôn giả có nhớ đến nhiều đời
sống quá khứ với
tổng quát và chi tiết?
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā
dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte
passatha cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe,
sugate duggate yathākammūpage satte pajānātha – ‘ime vata
bhonto sattā kāyaduccaritena samannāgatā vacīduccaritena
samannāgatā manoduccaritena samannāgatā, ariyānaṃ upavādakā
micchādiṭṭhikā micchādiṭṭhikammasamādānā, te kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā apāyaṃ duggatiṃ vinipātaṃ nirayaṃ upapannā; ime
vā pana bhonto sattā kāyasucaritena samannāgatā
vacīsucaritena samannāgatā manosucaritena samannāgatā,
ariyānaṃ anupavādakā sammādiṭṭhikā sammādiṭṭhikammasamādānā
te kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ
upapannā’ti, iti dibbena cakkhunā visuddhena
atikkantamānusakena satte passatha cavamāne upapajjamāne
hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe, sugate duggate yathākammūpage
satte pajānāthā’’ti? ‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
-- Chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy
phải chăng có khả năng
với thiên nhãn thanh tịnh
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Biết rõ được
rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ
thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do nghiệp riêng.
Những chúng sanh có thân ác, khẩu ác, ý ác, phỉ báng các bậc
thánh, chấp thủ tà kiến, sở thành theo tà kiến sau khi mạng
chung sanh vào cõi khổ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục.
Những chúng sanh có thân hiền thiện, khẩu hiền thiện,
ý hiền thiện; không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến,
sở hành y cứ trên chánh kiến sau khi mạnh chung sanh vào lạc
cảnh, thiên giới?
Như vậy với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và chết của chúng sanh. Biết rõ được rằng chúng sanh,
người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người
may mắn kẻ bất hạnh đều do nghiệp riêng?
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
‘‘Api pana tumhe āyasmanto evaṃ jānantā evaṃ passantā ye te
santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā, te kāyena phusitvā
viharathā’’ti? ‘‘No hetaṃ, āvuso’’.
-- Chư Tôn giả biết vậy, thấy vậy phải chăng có khả năng tịch tịnh, giải
thoát kởi sắc giới, tự thân chứng vô sắc giới?
-- Không phải vậy, này Hiền giả.
‘‘Ettha dāni āyasmanto idañca veyyākaraṇaṃ imesañca
dhammānaṃ asamāpatti; idaṃ no, āvuso, katha’’nti?
‘‘Paññāvimuttā kho mayaṃ, āvuso susimā’’ti.
-- Hỡi chư Tôn giả, vậy là thế nào khi nói là chứng ngộ
nhưng cũng nói là không chứng những trạng thái như vậy?
-- Này Hiền giả Susīma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
‘‘Na khvāhaṃ imassa āyasmantānaṃ saṃkhittena bhāsitassa
vitthārena atthaṃ ājānāmi. Sādhu me āyasmanto tathā bhāsantu
yathāhaṃ imassa āyasmantānaṃ saṃkhittena bhāsitassa
vitthārena atthaṃ ājāneyya’’nti. ‘‘Ājāneyyāsi vā tvaṃ, āvuso
susima, na vā tvaṃ ājāneyyāsi atha kho paññāvimuttā
maya’’nti.
-- Tôi không biết được ý nghĩa lời nói vắn tắt này của chư
Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên một cách rõ
ràng về những gì đã đề cập.
-- Này Hiền giả Susīma, dù hiền giả có hiểu hay không thì
chúng tôi vẫn giải thoát với tuệ giác.
Atha kho āyasmā susimo uṭṭhāyāsanā yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā susimo
yāvatako tehi bhikkhūhi saddhiṃ ahosi kathāsallāpo taṃ
sabbaṃ bhagavato ārocesi. ‘‘Pubbe kho, susima,
dhammaṭṭhitiñāṇaṃ, pacchā nibbāne ñāṇa’’nti.
Sau đó tôn giả Susīma từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Đức Thế
Tôn. Sau khi đến đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và kể lại
trọn câu chuyện đối thoại với chư tỳ khưu.
[Đức Thế Tôn nghe xong dạy rằng]
-- Này Susīma, trước hết là tuệ về
pháp trú, sau là tuệ về Niết-bàn.
‘‘Na khvāhaṃ, bhante, imassa bhagavatā
saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ ājānāmi.
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā bhāsatu yathāhaṃ imassa
bhagavatā saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ
ājāneyya’’nti. ‘‘Ājāneyyāsi vā tvaṃ, susima, na vā tvaṃ
ājāneyyāsi, atha kho dhammaṭṭhitiñāṇaṃ pubbe, pacchā nibbāne
ñāṇaṃ’’.
-- Bạch Đức Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách
rộng rãi lời nói ngắn gọn này của Thế Tôn. Lành thay nếu Thế
Tôn giảng cho con để hiều tường tận lời nói của Ngài.
-- Này Susīma, dù thầy có hiểu được hay không, trước hết là
tuệ về pháp trú, sau là tuệ về Niết-bàn.
‘‘Taṃ kiṃ maññasi, susima, rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā’’ti?
‘‘Aniccaṃ, bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ
vā’’ti? ‘‘Dukkhaṃ, bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ – ‘etaṃ
mama, esohamasmi, eso me attā’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
‘‘Vedanā niccā vā aniccā vā’’ti? ‘‘Aniccā, bhante’’. ‘‘Yaṃ
panāniccaṃ, dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā’’ti? ‘‘Dukkhaṃ,
bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ
nu taṃ samanupassituṃ – ‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me
attā’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. ‘‘Saññā niccā vā aniccā
vā’’ti? ‘‘Aniccā, bhante’’...pe... ‘‘saṅkhārā niccā vā
aniccā vā’’ti? ‘‘Aniccā, bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vā taṃ sukhaṃ vā’’ti? ‘‘Dukkhaṃ, bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ
dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ –
‘etaṃ mama, esohamasmi, eso me attā’’’ti? ‘‘No hetaṃ,
bhante’’. ‘‘Viññāṇaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā’’ti? ‘‘Aniccaṃ,
bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā’’ti?
‘‘Dukkhaṃ, bhante’’. ‘‘Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ samanupassituṃ – ‘etaṃ
mama, esohamasmi, eso me attā’’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’. -- Là vô thường, bạch Đức Thế Tôn? -- Cái gì vô thường là khổ hay lạc? -- Là khổ, bạch Thế Tôn. -- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi xem cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"? -- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn. -- Thọ là thường hay vô thường? … -- Tưởng là thường hay vô thường? … -- Hành là thường hay vô thường? … -- Thức là thường hay vô thường?... -- Vô thường, bạch Đức Thế Tôn. -- Cái gì vô thường là khổ hay lạc? -- Là khổ, bạch Thế Tôn. -- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi xem cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"? -- Thưa không, bạch Thế Tôn.
‘‘Tasmātiha, susima, yaṃ kiñci rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā, sabbaṃ rūpaṃ netaṃ mama
nesohamasmi na meso attāti; evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Yā kāci vedanā
atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṃ vā bahiddhā vā oḷārikā vā
sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā yā dūre santike vā, sabbā
vedanā netaṃ mama nesohamasmi na meso attāti; evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Yā kāci saññā...pe...
ye keci saṅkhārā atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṃ vā
bahiddhā vā oḷārikā vā sukhumā vā hīnā vā paṇītā vā ye dūre
santike vā, sabbe saṅkhārā netaṃ mama nesohamasmi na meso
attāti; evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Yaṃ
kiñci viññāṇaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ ajjhattaṃ vā bahiddhā
vā oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā paṇītaṃ vā yaṃ dūre
santike vā, sabbaṃ viññāṇaṃ netaṃ mama nesohamasmi na meso
attāti; evametaṃ yathābhūtaṃ sammappaññāya daṭṭhabbaṃ. Bất cứ thọ nào dù quá khứ, vị lai hay hiện tại...(như trên)... Bất cứ thọ nào dù quá khứ, vị lai hay hiện tại... (như trên)... Bất cứ tưởng nào dù quá khứ, vị lai hay hiện tại... ... (như trên)... Bất cứ thức nào dù quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội tại hay ngoại tại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải được quán sát với chánh trí như nhiên là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
‘‘Evaṃ passaṃ, susima, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi
nibbindati, vedanāyapi nibbindati, saññāyapi nibbindati,
saṅkhāresupi nibbindati, viññāṇasmimpi nibbindati. Nibbindaṃ
virajjati, virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti.
Này Susīma, vị thánh đệ tử có học hiểu thấy vậy sanh tâm
nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối
với tưởng, nhàm chán đối với hành, nhàm chán đối với thức.
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí nhận thức: “Đã giải thoát". Vị ấy
biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên
làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
‘‘‘Jātipaccayā jarāmaraṇa’nti, susima, passasī’’ti? ‘‘Evaṃ,
bhante’’. ‘‘‘Bhavapaccayā jātī’ti, susima, passasī’’ti?
‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘‘Upādānapaccayā bhavo’ti, susima,
passasī’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘‘Taṇhāpaccayā upādāna’nti,
susima, passasī’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Vedanāpaccayā
taṇhāti... phassapaccayā vedanāti... saḷāyatanapaccayā
phassoti... nāmarūpapaccayā saḷāyatananti... viññāṇapaccayā
nāmarūpanti... saṅkhārapaccayā viññāṇanti... avijjāpaccayā
saṅkhārāti, susima, passasī’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’.
‘‘‘Jātinirodhā jarāmaraṇanirodho’ti, susima, passasī’’ti?
‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘‘Bhavanirodhā jātinirodho’ti susima,
passasī’’ti? ‘‘Evaṃ, bhante’’. ‘‘Upādānanirodhā
bhavanirodhoti... taṇhānirodhā upādānanirodhoti...
vedanānirodhā taṇhānirodhoti... phassanirodhā
vedanānirodhoti... saḷāyatananirodhā phassanirodhoti...
nāmarūpanirodhā saḷāyatananirodhoti... viññāṇanirodhā
nāmarūpanirodhoti... saṅkhāranirodhā viññāṇanirodhoti...
avijjānirodhā saṅkhāranirodhoti, susima, passasī’’ti?
‘‘Evaṃ, bhante’’. -- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. -- Thầy có thấy: "Do duyên thủ, hữu sanh khởi?" --Thầy có thấy: "Do duyên ái, thủ sanh khởi"? -- Thầy có thấy: Do duyên thọ, ái sanh khởi?. .. -- Thầy có thấy: Do duyên xúc, thọ sanh khởi?. -- Thầy có thấy: Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi?. -- Thầy có thấy: Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi?. -- Thầy có thấy: Do duyên thức, danh sắc sanh khởi… -- Thầy có thấy: Do duyên hành thức sanh khởi. .. -- Thầy có thấy: Do duyên vô minh, hành sanh khởi". .. -- Thưa có, bạch Thế Tôn. -- Thầy có thấy: "Do sanh diệt, già chết diệt"? -- Thưa có, bạch Thế Tôn. -- Thầy có thấy: Do hữu diệt, nên sanh diệt" -- Thầy có thấy: "Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!?”. -- Thưa có, bạch Thế Tôn.
‘‘Api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto
anekavihitaṃ iddhividhaṃ paccanubhosi – ekopi hutvā bahudhā
hosi, bahudhāpi hutvā eko hosi; āvibhāvaṃ, tirobhāvaṃ,
tirokuṭṭaṃ tiropākāraṃ tiropabbataṃ asajjamāno gacchasi,
seyyathāpi ākāse; pathaviyāpi ummujjanimujjaṃ karosi,
seyyathāpi udake; udakepi abhijjamāno gacchasi, seyyathāpi
pathaviyaṃ; ākāsepi pallaṅkena kamasi, seyyathāpi pakkhī
sakuṇo; imepi candimasūriye evaṃmahiddhike evaṃmahānubhāve
pāṇinā parimasasi parimajjasi, yāva brahmalokāpi kāyena
vasaṃ vattesī’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
-- Này Susīma, biết vậy, thấy vậy phải chăng đã đắc chứng
nhiều loại thần lực khác nhau: hoá một thân thành nhiều
thân; từ nhiều thân hoá một thân; đi ngang vách tường; xuyên
núi như đi vào khoảng không; độn thổ như lặng trong nước; đi
trên mặt nước như di chuyển trên mặt đất không bị chìm; ngồi
kiết già phi hành trên hư không như chim; với bàn tay chạm
được mặt trời, mặt trăng cực lớn và nhiều mãnh lực; có thể
sử dụng thân thiện xảo đi tới phạm thiên giới.
--- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn
“api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto dibbāya
sotadhātuyā visuddhāya atikkantamānusikāya ubho sadde suṇasi
dibbe ca mānuse ca ye dūre santike cā”ti? “no hetaṃ,
bhante”.
-- Này Susīma, biết vậy, thấy vậy phải chăng đã đắc chứng
thiên nhỉ thông thuần tịnh siêu nhân có thể nghe được tiếng
xa hoặc gần của chư thiên và nhân loại?
--- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn
‘‘Api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto
parasattānaṃ parapuggalānaṃ cetasā ceto paricca pajānāsi –
sarāgaṃ vā cittaṃ sarāgaṃ cittanti pajānāsi...pe... vimuttaṃ
vā cittaṃ vimuttaṃ cittanti pajānāsī’’ti? ‘‘No hetaṃ,
bhante’’.
-- Này Susīma, biết vậy, thấy vậy phải chăng có khả năng
biết tâm người khác với tâm của mình: tâm có tham biết tâm
tham; tâm có sân biết tâm sân; tâm có si biết tâm si; tâm
không tham biết tâm vô tham; tâm không sân biết tâm vô sân;
tâm không si biết tâm vô si; tâm tập chú biết tâm tập chú;
tâm tán loạn biết tâm tán loạn; tâm đại hành biết tâm đại
hành; tâm vô thượng biết tâm vô thượng; tâm an chỉ biết tâm
an chỉ; tâm giải thoát biết tâm giải thoát; tâm không giải
thoát biết tâm không giải thoát?
--- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn
‘‘Api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto
anekavihitaṃ pubbenivāsaṃ anussarasi, seyyathidaṃ – ekampi
jātiṃ...pe... iti sākāraṃ sauddesaṃ anekavihitaṃ
pubbenivāsaṃ anussarasī’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
-- Này Susīma, biết vậy, thấy vậy phải chăng có khả năng nhớ
được nhiều kiếp quá khứ: một đời, hai đời, ba đời, bốn đời,
năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời,
năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một
trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại
và thành kiếp. Nhớ biết rõ:
"Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế
này, giai cấp như thế này, thực phẩm như thế nầy, vui khổ
như thế này, tuổi thọ như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia,
ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế
này, dòng họ như thế này,
thực phẩm như thế nầy, tuổi thọ như thế này. Sau khi
chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy, Thầy có
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ
với tổng quát và chi tiết?
-- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.
‘‘Api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto dibbena
cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passasi
cavamāne...pe... yathākammūpage satte pajānāsī’’ti? ‘‘No
hetaṃ, bhante’’.
-- Này Susīma, biết vậy thấy vậy phải chăng có khả năng với
thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của
chúng sanh. Biết rõ được rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ
cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh
đều do nghiệp riêng. Những chúng sanh có thân ác, khẩu ác, ý
ác, phỉ báng các bậc thánh, chấp thủ tà kiến, sở thành theo
tà kiến sau khi mạng chung sanh vào cõi khổ, ác thú, đoạ xứ,
địa ngục. Những
chúng sanh có thân hiền thiện, khẩu hiền thiện, ý hiền
thiện; không phỉ báng các bậc thánh, có chánh kiến, sở hành
y cứ trên chánh kiến sau khi mạnh chung sanh vào lạc cảnh,
thiên giới? Như
vậy với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và
chết của chúng sanh. Biết rõ được rằng chúng sanh, người hạ
liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ
bất hạnh đều do nghiệp riêng?
-- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.
‘‘Api pana tvaṃ, susima, evaṃ jānanto evaṃ passanto ye te
santā vimokkhā atikkamma rūpe, āruppā te kāyena phusitvā
viharasī’’ti? ‘‘No hetaṃ, bhante’’.
-- Này Susīma, biết vậy, thấy vậy phải chăng có khả năng
tịch tịnh, giải thoát kởi sắc giới, tự thân chứng vô sắc
giới?
-- Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.
‘‘Ettha dāni, susima, idañca veyyākaraṇaṃ imesañca dhammānaṃ
asamāpatti, idaṃ no, susima, katha’’nti?
Atha kho āyasmā susimo bhagavato pādesu sirasā nipatitvā
bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘accayo maṃ, bhante, accagamā
yathābālaṃ yathāmūḷhaṃ yathāakusalaṃ, yvāhaṃ evaṃ svākkhāte
dhammavinaye dhammatthenako pabbajito. Tassa me, bhante,
bhagavā accayaṃ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṃ saṃvarāyā’’ti.
-- Này Susīma, vậy là thế nào khi nói là chứng ngộ nhưng
cũng nói là không chứng những trạng thái như vậy?
Rồi Tôn giả Susīma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch
rẳng:
--Bạch Đức Thế Tôn, con đã phạm một lầm lỗi
vì ngu đần, vì si mê,
vì bất thiện. Con xuất gia như một người ăn trộm pháp trong
Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, kính mong Thế Tôn
nhận biết điều nầy nơi con là một tội lỗi để con ngăn ngừa
trong tương lai!
‘‘Taggha tvaṃ, susima, accayo accagamā yathābālaṃ
yathāmūḷhaṃ yathāakusalaṃ, yo tvaṃ evaṃ svākkhāte
dhammavinaye dhammatthenako pabbajito. Seyyathāpi, susima,
coraṃ āgucāriṃ gahetvā rañño dasseyyuṃ – ‘ayaṃ te, deva,
coro āgucārī, imassa yaṃ icchasi taṃ daṇḍaṃ paṇehī’ti.
Tamenaṃ rājā evaṃ vadeyya – ‘gacchatha, bho, imaṃ purisaṃ
daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṃ gāḷhabandhanaṃ bandhitvā
khuramuṇḍaṃ karitvā kharassarena paṇavena rathiyāya rathiyaṃ
siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ parinetvā dakkhiṇena dvārena
nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṃ chindathā’ti. Tamenaṃ
rañño purisā daḷhāya rajjuyā pacchābāhaṃ gāḷhabandhanaṃ
bandhitvā khuramuṇḍaṃ karitvā kharassarena paṇavena
rathiyāya rathiyaṃ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṃ parinetvā
dakkhiṇena dvārena nikkhāmetvā dakkhiṇato nagarassa sīsaṃ
chindeyyuṃ. Taṃ kiṃ maññasi, susima, api nu so puriso
tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ paṭisaṃvediyethā’’ti? ‘‘Evaṃ,
bhante’’.
-- Này Susīma, Thầy thật sự đã phạm một lầm lỗi
vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện khi xuất gia như
một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.
Này Susīma, ví như người ta bắt được một tội nhân là kẻ trộm
mang đến nhà vua và tâu rằng: Thưa Đại vương đây là tội nhân
trộm đạo xin tuỳ nghi xử phạt. Nhà vua ra lệnh: Hãy đem
người nẩy cạo đầu rồi trói chặt. Sau đó đưa tội phạm lên xe
nhỏ đi từ đường nầy ra được khác, giao lộ nẩy đến giao lộ
khác vửa đi vừa đánh trống. Sau khi đến nam môn của thành
thì chém đẩu.
Những người kia vâng lệnh vua, đem tội nhân cạo đầu rồi trói
chặt. Sau đó đưa tội phạm lên xe nhỏ đi từ đường nầy ra được
khác, giao lộ nẩy đến giao lộ khác vửa đi vừa đánh trống.
Sau khi đến nam môn của thành thì chém đẩu. Này Susīma,
người ấy có cảm thọ khổ ưu chăng?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
‘‘Yaṃ kho so, susima, puriso tatonidānaṃ dukkhaṃ domanassaṃ
paṭisaṃvediyetha. Yā evaṃ svākkhāte dhammavinaye
dhammatthenakassa pabbajjā, ayaṃ tato dukkhavipākatarā ca
kaṭukavipākatarā ca, api ca vinipātāya saṃvattati. Yato ca
kho tvaṃ, susima, accayaṃ accayato disvā yathādhammaṃ
paṭikarosi taṃ te mayaṃ paṭiggaṇhāma. Vuddhi hesā, susima,
ariyassa vinaye yo accayaṃ accayato disvā yathādhammaṃ
paṭikaroti, āyatiñca saṃvaraṃ āpajjatī’’ti. Dasamaṃ.
-- Này Susīma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ
khổ ưu nhưng so với người xuất gia với với ý định ăn trộm
pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy
phải rơi vào qua báo thống khổ
kịch liệt hơn,đau đớn hơn.
Này Susīma, Thầy đã thấy
phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên Ta chứng
minh sự hối lỗi cho Thầy. Này Susìma, thấy phạm tội là phạm
tội và như pháp phát lộ là đạo lý của thánh nhân để ngăn giữ
trong tương lai.
Chú Thích
Susīma nguyên là một bà la môn uyên bác tam Phệ Đà. Sau khi
nghe Đức Phật giảng kinh nầy đã tu tập và trở thành một bậc
a la hán.
Đức Phật cho phép Susīma xuất gia là một ngoại lệ vì Ngài
biết vi ấy sẽ chứng quả A la hán. Thông thường các tu sĩ
ngoại đạo phải qua thời gian biệt trú mới được thọ đại giới.
Theo Sớ giải thì nhóm tỳ khưu tuyên bố thành tựu quả giải
thoát là một số tỳ khưu trước mùa an cư kiết hạ đến xin Đức
Phật dạy thiền án tu tập. Mãn hạ các vị trở về đều là bậc vô
sanh ứng cúng nhưng chỉ đoạn tận phiền não chứ không có thần
thông do thiền chứng.
Theo Sớ giải thì câu trả lời sau cùng của nhóm tỳ khưu:
Paññāvimuttā kho mayaṃ āvuso Susīma. Có nghĩa là “Này hiền
giả, chúng tôi chỉ là bậc khô quán giả chứ không phải là bậc
câu phần giải thoát” (āvuso mayaṃ nijjhānakā sukkhavipassakā
paññāmatten’eva vimuttā na ubhatobhāgavimuttā)
Sớ giải chỉ nói các vị tỳ khưu không luyện thần thông thắng
trí nhưng không hẳn không có thiền chứng.
Cụm từ dhammaṭṭhitiñāṇaṃ, pacchā nibbāne ñāṇaṃ - trước là
tuệ tri pháp, sau là tuệ tri niết bàn theo Sớ giải là quá
trình tu thiền minh sát (vipassana). Thấy chân tướng vạn
pháp và liễu chứng niết bàn.
Theo Sớ giải thì cách hỏi của Đức Phật là phương thức đưa
Susīma và tuệ quán minh sát. Tỳ kheo Giác Đẳng soạn dịch.
-ooOoo- |