|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, 02 tháng 05, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XX. Phẩm Đạo Lộ (Maggavagga) Gồm 17 bài kệ với 12 duyên sự -Kệ số 9 (dhp 281)Chánh văn:
9. Gìn giữ lời nói, tâm ý khéo thu thúc, thân không làm điều
bất thiện. Nên thanh lọc ba nghiệp lộ ấy, nên chứng tri con
đường mà bậc Ẩn sĩ đã tuyên bố.
Duyên sự:
Bài kệ nầy được đức Phật thuyết Rājagaha khi Ngài trú ở
Veḷuvamavihāra, vì câu chuyện tôn giả Mahāmoggallāna trông
thấy ngạ quỉ heo.
Một ngày nọ, tôn giả Mahāmoggallāna cùng với tôn giả
Lakkhana từ núi Gijjhakūṭa đi xuống để vào thành Rājagaha
khất thực, đi đến chỗ nọ Tôn giả Mahāmoggallāna đứng lại và
mỉm cười. Thấy vậy tôn giả Lakkhaṇa mới hỏi: “Do nhân gì,
hiền giả mỉm cười?”
Tôn giả Mahāmoggallāna bảo: “Hiền giả hãy hỏi tôi câu nầy
lúc trước mặt đức Thế Tôn, tôi sẽ trả lời”.
Thế rồi hai vị xuống núi và đi vào thành Rājagaha khất thực.
Vào buổi chiều, hai vị đi đến Veḷuvana đảnh lễ đức Thế Tôn.
Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, hai vị ngồi xuống một bên. Khi
ấy Tôn giả Lakkhana nhắc lại câu hỏi với tôn giả
Mahāmoggallāna: “Thưa hiền giả Moggallāna, lúc sáng từ núi
Gijjhakūṭa đi xuống, do nhân gì hiền giả đứng lại và mỉm
cười?”.
_ “Này hiền giả Lakkhaṇā, lúc đó tôi nhìn thấy một ngạ quỉ
mình người mà đầu heo, từ miệng nó mọc ra cái đuôi. Tôi thầm
nghĩ từ trước giờ ta chưa từng thấy một chúng sanh có hình
tướng dị kỳ như thế, nên tôi mỉm cười”.
Đức Thế Tôn xác nhận: “Thật vậy, những vị thinh văn có thiên
nhãn sẽ thấy. Này chư tỳ kheo, ta cũng từng thấy chúng sanh
đó khi vừa giác ngộ, nhưng ta không nói vì lòng bi mẫn đối
với những người nếu họ không tin ta, sẽ bất lợi cho họ. Nay
có Moggallāna chứng kiến rồi, ta sẽ nói. Này chư tỳ kheo,
Moggallāna đã nói đúng sự thật”.
Rồi theo lời thỉnh cầu của chư tăng, đức Phật đã thuyết tiền
nghiệp của ngạ quỉ heo như sau:
Trong thời kỳ đức Thế Tôn Kassa, tại một ngôi chùa làng nọ
có hai vị tỳ kheo cư trú, họ sống hoà hợp, vị lớn sáu mươi
hạ, vị nhỏ năm mươi chín hạ. Mặc dù hạ lạp gần ngang bằng
nhau như vị tỳ kheo năm mươi chín hạ vẫn thực hành phận sự
của vị tỳ kheo nhỏ hạ đối với vị sáu mươi hạ, như là vị sa
di đối với vị tỳ kheo vậy. Vị tỳ kheo sáu mươi hạ cũng đối
xử với vị tỳ kheo năm mươi chín hạ rất thân thiện, như một
vị đồng phạm hạnh ngang hàng.
Hai vị sống chung trong thời gian dài, tình như thủ túc,
tưởng chừng không bao giờ chia lìa nếu như không bị lời ly
gián của một vị khách tăng.
Một ngày nọ có vị khách tăng là pháp sư lỗi lạc ghé lại ngôi
chùa làng ấy. Hai vị trưởng lão trong chùa rất hoan hỷ và
thỉnh vị khách tăng lưu lại ít hôm để thuyết pháp cho dân
làng nghe. Mỗi ngày hai vị trưởng lão dẫn vị khách tăng đi
khất thực quanh làng hoặc thỉnh về nhà thí chủ nhận sự cúng
dường.
Ở năm ba hôm, vị khách tăng sanh tâm muốn chiếm đoạt ngôi
chùa để mình làm trụ trì sẽ có danh lợi. Vị khách tăng dùng
lời nói đâm thọc, khiến hai vị trưởng lão nghi kỵ lẫn nhau,
mất tình đoàn kết, rồi mỗi vị một ngã bỏ chùa ra đi. Suốt
nhiều chục năm hai vị trưởng lão không gặp mặt nhau.
Vị pháp sư do tạo nghiệp chia rẽ ấy nên sau khi chết đoạ
sanh vào địa ngục A tỳ. Từ địa ngục A tỳ, với ác quả dư sót
đã tái sanh làm loài ngạ quỉ heo trên núi Gijjhakūṭa.
Sau khi nói xong tiền nghiệp của ngạ quỉ heo, đức Phật dạy
các tỳ kheo thêm: “Này các tỳ kheo, với vị tỳ kheo cần thanh
tịnh tam nghiệp thân khẩu ý”. Rồi đức Phật thuyết lên kệ
ngôn: “Vācānurakkhī
manasā saṃvuto…v.v… Ārādhaye maggaṃ isippaveditan’ ti.
Dứt pháp thoại có nhiều vị tỳ kheo đắc thánh quả.
Lý giải:
Bài kệ nầy ý đức Phật dạy các tỳ kheo, hể là bậc xuất gia
thì phải giữ thanh tịnh tam nghiệp (tayo kammapathe
visodhaye), tức là thanh tịnh thân nghiệp (kāyakammaṃ
visodhaye), thanh tịnh khẩu nghiệp (vacīkammavisodhaye),
thanh tịnh ý nghiệp (manokammaṃ visodhaye). Nhưng trong bài
kệ, vì liên qua đến duyên sự nói về tiền nghiệp của ngạ quỷ
miệng heo, do qua của khẩu nghiệp nói chia rẽ, nên đức Phật
thuyết nêu khẩu nghiệp trước rồi, rồi đến ý nghiệp, sau cùng
là thân nghiệp: “Vācānurakkhī manasā susaṃvuto kāyena ca
akusalaṃ na kayirā…”
Vācānurakkhī, gìn giữ lời nói. Đây có nghĩa là gìn giữ khẩu
nghiệp, tránh bốn khẩu ác hạnh (Vacīduccaritānaṃ vajjanaṃ):
không nói dối, không nói chia rẽ, không nói độc ác, không
nói chuyện vô ích.
Manasā susaṃvuto, khéo phòng hộ tâm ý. Đây có nghĩa là gìn
giữ ý nghiệp, tránh ba ý ác hạnh (manoduccaritānaṃ
vajjanaṃ): không tham, không phẫn nộ, không tà kiến.
Kāyena ca akusalaṃ na kayirā, thân không làm điều bất thiện.
Đây có nghĩa là gìn giữ thân nghiệp, tránh ba thân ác hạnh
(kāyaduccaritānaṃ vajjanaṃ): không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm.
Thân khẩu ý không tạo nghiệp bất thiện như thế gọi là thanh
tịnh tam nghiệp (tayokammapathe visodhaye).
Đức Phật dạy, nếu làm thanh tịnh tam nghiệp sẽ chứng đạt đạo
lộ đã được các bậc Ẩn sĩ tuyên thuyết. Các bậc Ẩn sĩ (Isīhi)
là đức Phật và chư A la hán thinh văn của đức Phật. Đạo lộ
đã được tuyên thuyết (paveditaṃ maggaṃ) là bát chánh đạo
(aṭṭhaṅgikamaggaṃ), đạo lộ đưa đến níp bàn./. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |