|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 04 tháng 05, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Khái niệm về chủng tử, hạt
giống, rất quen thuộc trong Phật
học. Điều nầy cũng có ý nghĩa
quan trọng đối với người tu tập.
Có những vấn đề rất dễ giải
quyết nếu giải quyết từ trong
trứng nước. Nhưng một khi đã
hình thành lớn mạnh thì quả là
một nan đề. Hành giả cần nhận
thức giai đoạn tiên khởi của
phiền não vốn là những chấp thủ
được tưới tẩm bởi hỷ tham. Người
thường chỉ thấy nỗi khổ đau to
lớn vượt khả năng giải quyết mà
ít khi nghĩ tới tất cả sanh
trưởng từ vọng niệm ban đầu.
Sāvatthinidānaṃ.
“Pañcimāni, bhikkhave,
bījajātāni. Katamāni pañca?
Mūlabījaṃ, khandhabījaṃ,
aggabījaṃ, phalubījaṃ,
bījabījaññeva pañcamaṃ.
Nhân duyên ở
Sāvatthi …
—Này
chư Tỳ khưu, có năm loại
chủng tử. Năm loại là gì? Chủng
tử từ rễ,
chủng tử từ thân, chủng tử từ
đọt, chủng tử từ trái, và chủng
tử từ hạt giống là thứ năm.
Imāni cassu, bhikkhave, pañca
bījajātāni akhaṇḍāni apūtikāni
avātātapahatāni sārādāni
sukhasayitāni, pathavī ca nāssa,
āpo ca nāssa; api numāni,
bhikkhave, pañca bījajātāni
vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ
āpajjeyyun”ti?
“No hetaṃ, bhante”.
Này chư Tỳ khưu,
nếu năm loại chủng tử này không
bị hư hoại, không bị cắt đoạn,
khéo trồng với phân bón nhưng
không đủ đất, không đủ nước thời
những chủng tử nầy có phát
triển, lớn mạnh, tăng trưởng
không?
—Thưa không,
bạch Đức Thế Tôn.
“Imāni cassu, bhikkhave, pañca
bījajātāni akhaṇḍāni …pe…
sukhasayitāni, pathavī ca assa,
āpo ca assa; api numāni,
bhikkhave, pañca bījajātāni
vuddhiṃ virūḷhiṃ vepullaṃ
āpajjeyyun”ti?
“Evaṃ, bhante”.
Này chư Tỳ khưu,
nếu năm loại chủng tử này không
bị hư hoại, không bị cắt đoạn,
khéo trồng với phân bón vả đủ
đất, đủ nước thời những chủng tử
nầy có phát triển, lớn mạnh,
tăng trưởng không?
—Thưa được, bạch
Đức Thế Tôn.
“Seyyathāpi, bhikkhave,
pathavīdhātu, evaṃ catasso
viññāṇaṭṭhitiyo daṭṭhabbā.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpodhātu,
evaṃ nandirāgo daṭṭhabbo.
Seyyathāpi, bhikkhave, pañca
bījajātāni, evaṃ viññāṇaṃ
sāhāraṃ daṭṭhabbaṃ.
Này chư Tỳ khưu,
bốn thức trú ví như đất cần phải
được xem như vậy. Hỷ tham ví
như
nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham
cần phải được xem như vậy. Thức
và cùng với những dưỡng tố được
xem là năm chủng tử.
Rūpupayaṃ, bhikkhave, viññāṇaṃ
tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
rūpārammaṇaṃ rūpappatiṭṭhaṃ
nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ
vepullaṃ āpajjeyya.
Vedanupayaṃ vā, bhikkhave,
viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya
…pe…
saṅkhārupayaṃ vā, bhikkhave,
viññāṇaṃ tiṭṭhamānaṃ tiṭṭheyya,
saṅkhārārammaṇaṃ
saṅkhārappatiṭṭhaṃ
nandūpasecanaṃ vuddhiṃ virūḷhiṃ
vepullaṃ āpajjeyya.
Này chư Tỳ khưu,
thức khi trụ có thể vướng mắc ở
sắc; y cứ trên sắc; thiết lập
trên sắc; với sự tưới tẩm của hỷ
có thể phát triển, lớn mạnh,
tăng trưởng.
,,, thức khi trụ có thể vướng
mắc ở thọ …
thức khi trụ có
thể vướng mắc ở hành; y cứ trên
hành; thiết lập trên hành; với
sự tưới tẩm của hỷ có thể phát
triển, lớn mạnh, tăng trưởng.
Yo, bhikkhave, evaṃ vadeyya:
‘ahamaññatra rūpā aññatra
vedanāya aññatra saññāya aññatra
saṅkhārehi viññāṇassa āgatiṃ vā
gatiṃ vā cutiṃ vā upapattiṃ vā
vuddhiṃ vā virūḷhiṃ vā vepullaṃ
vā paññāpessāmī’ti, netaṃ ṭhānaṃ
vijjati.
Này chư Tỳ khưu,
ai
nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài
thọ, ngoài tưởng, ngoài hành,
tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự
diệt hay sanh, sự phát trỉển, sự
lớn mạnh hay sự tăng trưởng của
thức”, đó là điều không thể.
Rūpadhātuyā ceva, bhikkhave,
bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā
vocchijjatārammaṇaṃ patiṭṭhā
viññāṇassa na hoti.
Vedanādhātuyā ce …
viññāṇadhātuyā ce, bhikkhave,
bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā
vocchijjatārammaṇaṃ patiṭṭhā
viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhitaṃ viññāṇaṃ
avirūḷhaṃ anabhisaṅkhacca
vimuttaṃ.
—Này chư Tỳ
khưu,
một
người tu tập từ bỏ vướng mắc đối
với nguyên tố sắc; với sự từ bỏ
dục vọng, sở duyên được cắt đứt;
không có sự trợ duyên cho sự
thiết lập của thức.
… từ bỏ vướng
mắc đối với nguyên tố thọ …
Một người tu tập
từ bỏ vướng mắc đối với nguyên
tố thức; với sự từ bỏ dục vọng
sở duyên được cắt đứt; không có
sự trợ duyên cho sự thiết lập
của thức.
Vimuttattā ṭhitaṃ. Ṭhitattā
santusitaṃ. Santusitattā na
paritassati. Aparitassaṃ
paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṃ
itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Khi thức không thiết lập thời
không tăng trưởng, lan toả; vậy
là giải thoát. Giải thoát tạo
nên an định; an định tạo nên
toại nguyện; do toại nguyện nên
không hy cầu; do không hy cầu,
vị ấy tự thân chứng niết bàn
và biết rõ: ” Sanh đã tận, Phạm
hạnh đã thành, những việc cần
làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa”.
Chú Thích
Chữ bīja nghĩa là hạt giống mà
cũng có nghĩa là “giống cây” là
khởi đầu của thảo mộc. Muốn gieo
tròng người ta thường nghĩ đến
hạt giớng. Nhưng không phải tất
cả giống cây đều là hạt giống.
Có những giống mọc từ rễ như
chuối; mọc từ.thân
như khoai mì (sắn), mọc từ đọt
như mía, mọc từ trái như cây
dừa, mọc từ hạt như lúa.
Bốn thức trú là là sắc, thọ,
tưởng, hành được ví như đất; sự
ưa thích và ham muốn (hỷ tham)
được thí dụ là nước.
Những ý nghĩa khác xem chú thích
bài kinh truớc “Kinh Vướng Mắc
(Upayasuttaṃ)(S,ii,338) Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |