|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 13 tháng 05, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Cái nhìn của tuệ giác thường khi
được xem là tát cạn khổ đau,
đoạn tận dây kiết phược. Cao vợi
nhưng khô khan. Thậm thâm nên
chỉ còn là lý tính. Sự thật
không hoàn toàn là vậy. Chân
Pháp vẫn tạo nên nguồn cảm hứng
bất tận. Không phải chỉ có phàm
nhân mà ngay cả những bậc “làu
thông kinh điển”, ngay cả Đấng
Pháp Vương Vô Thượng Tôn cũng có
những cảm hứng khi quán chiếu
pháp giới. Trong cảnh giới của
tuệ giác vi diệu vẫn có bản
chứng đạo ca với nhiều cung bậc
cảm xúc.
Đây là bài kinh trích lục từ
Trung Bộ (Majjhimānikāya) bổ túc
cần thiết cho bài Kinh Bảy Lãnh
Vực (Sattaṭṭhānasuttaṃ) trong
môn Tương Ưng Bộ ở đoạn cuối vốn
ngắn gọn như sau:
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu
tividhūpaparikkhī hoti? Idha,
bhikkhave, bhikkhu dhātuso
upaparikkhati, āyatanaso
upaparikkhati,
paṭiccasamuppādaso
upaparikkhati. Evaṃ kho,
bhikkhave, bhikkhu
tividhūpaparikkhī hoti.
Sattaṭṭhānakusalo, bhikkhave,
bhikkhu tividhūpaparikkhī,
imasmiṃ dhammavinaye kevalī
vusitavā ‘uttamapuriso’ti
vuccatī”ti.
Và này chư Tỳ khưu, như thế nào
là người thẩm định theo ba cách
? Này chư Tỳ khưu, ở đây người
tu tập thẩm định theo giới, theo
xứ, theo duyên sinh. Như vậy là
thẩm định theo ba cách.
Này chư Tỳ khưu, một người tu
tập thiện xảo trong bảy lãnh vực
với sự thẩm định theo ba cách
được gọi là bậc chí thiện, bậc
viên mãn phạm hạnh, bậc tối
thượng trong Pháp và Luật nầy.
Chú Thích
Kinh Đa Giới (Bahudhàtuka sutta) là một bài kinh quan
trọng đối với người nghiên cứu
Phật học. Chữ dhātu - giới ở đây
có nghĩa là nguyên tố, nguyên
liệu, thành tố chỉ cho hai điều:
một là đối tượng đển phân tích
đến mức độ tận cùng để gọi là
nguyên tố; hai là những thành tố
kết hợp tạo nên hiện tượng “pháp
hữu vi”. Có thểnói bài kinh nầy
phản ánh của lăng kính đa chiều
mà thường gọi là “tứ vô ngại
giải (patisambhidā) gồm “nghĩa
vô ngại giải -
attha-patisambhidā, pháp vô ngại
giải . (dhamma-patisambhidā),
biện vô ngại giải
(patibhana-patisambhidā), và từ
vô ngại giải
(nirutti-patisambhidā).
Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikaya)
- Bài kinh số 115
KINH ĐA GIỚI
(Bahudhàtuka sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi
(Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm),
tại tịnh xá ông Anathapindika
(Cấp Cô Ðộc). Ở đấy, Thế Tôn gọi
các Tỷ-kheo: -- "Này các
Tỷ-kheo". -- "Bạch Thế Tôn". Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế
Tôn nói như sau:
-- Phàm có những sợ hãi gì sanh
khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả
những sợ hãi ấy sanh khởi cho
người ngu, không phải cho người
hiền trí (pandita). Phàm có
những thất vọng gì sanh khởi,
này các Tỷ-kheo, tất cả thất
vọng ấy sanh khởi cho người ngu,
không phải cho người hiền trí.
Phàm có những hoạn nạn gì sanh
khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả
hoạn nạn ấy sanh khởi cho người
ngu, không phải cho người hiền
trí. Ví như, này các Tỷ-kheo,
tia lửa từ ngôi nhà bằng cỏ,
thiêu cháy ngôi nhà có lầu gác
được trét trong trét ngoài, được
che chở khỏi gió, có chốt khóa
gài kỹ, có cửa sổ đóng kỹ; cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có
những sợ hãi gì sanh khởi, này
các Tỷ-kheo, tất cả những sợ hãi
ấy sanh khởi cho người ngu,
không phải cho người hiền trí;
phàm có những thất vọng gì sanh
khởi, này các Tỷ-kheo, tất cả
những thất vọng ấy sanh khởi cho
người ngu, không phải cho người
hiền trí; phàm có những hoạn nạn
gì sanh khởi, này các Tỷ-kheo,
tất cả những hoạn nạn ấy sanh
khởi cho người ngu, không phải
cho người hiền trí. Như vậy, này
các Tỷ-kheo, kẻ ngu đầy những sợ
hãi, người hiền trí không có sợ
hãi. Kẻ ngu đầy những thất vọng,
người hiền trí không có thất
vọng. Kẻ ngu đầy những hoạn nạn,
người hiền trí không có hoạn
nạn. Này các Tỷ-kheo, không có
sợ hãi cho người hiền trí, không
có thất vọng cho người hiền trí,
không có hoạn nạn cho người hiền
trí. Do vậy, này các Tỷ-kheo,
"Chúng tôi sẽ thành người hiền
trí, biết suy tư tìm hiểu", như
vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông
cần phải học tập.
Chú thích
Với lời
mở đầu bài kinh nầy, Đức Phật
khẳng định sự tương quan mật
thiết giữa lý trí và tình cảm:
sự hiểu biết thật sự khiến người
ta vững lòng trước phong ba bão
tố trong cuộc đời. Trái lại sự
hoảng loạn trước những điều
ngoài ý muốn bất ngờ đến từ sự
thiếu hiểu biết thường được gọi
là “đinh ninh” hay cái nhìn chủ
quan xa rời thực tại.
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn:
-- Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn,
là vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo là
người hiền trí, biết suy tư tìm
hiểu?"
-- Cho đến khi, này Ananda,
Tỷ-kheo thiện xảo về giới, thiện
xảo về xứ, thiện xảo về duyên
khởi và thiện xảo về xứ phi xứ,
cho đến mức độ như vậy, này
Ananda, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo là người hiền trí, biết
suy tư tìm hiểu".
(Giới)
-- Ðến mức độ nào, bạch Thế Tôn,
là vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện
xảo về giới?"
-- Này Ananda, có mười tám giới
này: nhãn giới, sắc giới, nhãn
thức giới; nhĩ giới, thanh giới,
nhĩ thức giới; tỷ giới, hương
giới, tỷ thức giới; thiệt giới,
vị giới, thiệt thức giới; thân
giới, xúc giới, thân thức giới;
ý giới, pháp giới, ý thức giới.
Này Ananda, cho đến khi biết
được, thấy được mười tám giới
này, cho đến mức độ như vậy, này
Ananda, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về giới".
-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có
pháp môn nào khác là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
giới?"
-- Có thể có, này Ananda. Này
Ananda, có sáu giới này: địa
giới, thủy giới, phong giới, hỏa
giới, không giới, thức giới. Này
Ananda, cho đến khi biết được,
thấy được sáu giới này, cho đến
mực độ như vậy, này Ananda, là
vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện
xảo về giới".
-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có
pháp môn nào khác, là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
giới".
-- Có thể có, này Ananda. Này
Ananda, có sáu giới này: lạc
giới, khổ giới, hỷ giới, ưu
giới, xả giới, vô minh giới. Này
Ananda, cho đến khi biết được,
thấy được sáu giới này, cho đến
mức độ như vậy, này Ananda, là
vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện
xảo về giới".
-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có
pháp môn nào khác, là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
giới?"
-- Có thể có, này Ananda. Này
Ananda, có sáu giới này: dục
giới, ly dục giới, sân giới, vô
sân giới, hại giới, bất hại
giới. Này Ananda, cho đến khi
biết được, thấy được sáu giới
này, cho đến mức độ như vậy, này
Ananda, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về giới".
-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có
pháp môn nào khác, là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
giới?"
-- Có thể có, này Ananda.
Này
Ananda, có ba giới này: dục
giới, sắc giới, vô sắc giới.
Này Ananda, cho đến khi biết
được, thấy được ba giới này, cho
đến mức độ như vậy, này Ananda,
là vừa đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện
xảo về giới".
-- Nhưng bạch Thế Tôn, có thể có
pháp môn nào khác, là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
giới?"
-- Có thể có, này Ananda. Này
Ananda, có hai giới này: hữu vi
giới và vô vi giới. Này Ananda,
cho đến khi biết được, thấy được
hai giới này, cho đến mức độ như
vậy, này Ananda, là vừa đủ để
nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về giới"
Chú thích
Có hai
điểm trong đoạn kinh trên cần
lưu ý.
Một là trong Phật học, nói chính
xác hơn là trong dạy của Đức
Phật, có rất nhiều pháp và ý
nghĩa cần được hiểu rất thoát
trên cả hai phương diện ngữ và
nghĩa. Đoạn kinh nầy là một thí
dụ điển hình. Chữ dhātu vốn mang
nhiều ý nghĩa như nguyên tố,
thành tố, xá lợi…. nhưng khi nói
về nguyên tố như trong phạm trù
“uẩn, xứ, giới, đế” thì thường
được hiểu như căn, cảnh, thức.
Tuy nhiên chữ giới trong bài học
nầy được Đức Phật dạy với rất
nhiều phạm trù khác nhau. Người
học Phật cần có cái nhìn rộng
thoáng về điểm nầy. Những cách
hiểu cục bộ hạn hẹp thường dẫn
tới sự tranh cãi không cần
thiết.
Hai là qua những câu hỏi của Tôn
giả Ananda vị thị giả của Đức
Phật cũng là “bậc thủ khố chánh
pháp” cho thấy giá trị của một
người
biết hỏi và khéo hỏi.
Từ
đó tạo nên rất nhiều lợi lạc cho
bao thế hệ sau nầy.
Câu Phật ngôn “siyā, ānanda.
tisso imā, ānanda, dhātuyo —
kāmadhātu, rūpadhātu,
arūpadhātu. (Này Ananda, có ba
giới này: dục giới, sắc giới, vô
sắc giới) là một sự trùng hợp về
ngữ và nghĩa trong dịch thuật.
Ba thuật ngữ: kāmadhātu,
rūpadhātu, arūpadhātu được dịch
là dục giới, sắc giới, vô sắc
giới và ba thuật ngữ kāmavacara,
rūpavacara, arūpāvacara
cũng dịch là dục giới, sắc giới,
vô sắc giới có những dị biệt và
tương đồng về chữ dịch và ý
nghĩa một cách thú vị nhưng dễ
tạo ngộ nhận. Chữ dhātu chỉ cho
nguyên tố, thành tố dịch là
giới. Chữ avacara chỉ cho cảnh
giới, giới phận, khu vực cũng
dịch là giới. Trong kāmavacara
(dục giới) bắt buộc phải có
kāmadhātu nhưng kāmadhātu không
nhất thiết chỉ có ở kāmavacara.
(Xứ)
-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến
mức độ nào là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về xứ?"
-- Này Ananda, có sáu nội xứ,
ngoại xứ này: mắt và sắc, tai và
tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị,
thân và xúc, ý và pháp. Này
Ananda, cho đến khi biết được,
thấy được sáu nội ngoại xứ này,
cho đến mức độ như vậy, này
Ananda, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về xứ".
Chú thích
Thuật ngữ “xứ - āyatana” trong
bài kinh nầy cũng là trường hợp
thú vị trong dịch thuật. Chữ
“xứ” trong đoạn kinh ngắn trên
chỉ cho nơi chỗ, cơ sở, nền tảng
cho tâm thức sanh khởi. Trong
Phật học Hán Việt chữ “xứ” còn
được dịch từ thuật ngữ ṭhānā như
trong “tứ niệm xứ hay bốn lãnh
vực chánh niệm”. Trong lúc chữ
ṭhāna
trong ṭhānāṭhāna ở đoạn áp
chót của bài kinh nầy được Hoà
thượng Thích Minh Châu dịch là
“xứ phi xứ” thì là một “tai họa
dịch thuật” vì cụm từ nầy có
nghĩa là “những điều có thể và
không thể” (Trong tiếng Việt có
trường hợp chữ “thị phi” vốn
mang nghĩa gốc là “chính nó
(thị) và chẳng phải nó (phi) chỉ
cho những đàm tiếu chuyện có
chuyện không. Nguyên nghĩa thì
không xấu nhưng cách dùng khiến
từ vựng tạo nên ý nghĩa tiêu
cực. Cụm từ nên được hiểu là “có
thể và không thể theo ngữ pháp
tương tự. Tất nhiên chỉ là ngữ
pháp chứ không là ý nghĩa)
(Duyên sinh)
-- Nhưng bạch Thế Tôn, cho đến
mức độ nào là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về duyên
sinh?"
-- Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
biết như sau: Nếu cái này có,
cái kia có; do cái này sanh, cái
kia sanh. Nếu cái này không có,
cái kia không có; do cái này
diệt, cái kia diệt. Tức là vô
minh duyên hành, hành duyên
thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập
duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ
duyên ái, ái duyên thủ, thủ
duyên hữu; hữu duyên sanh; do
duyên sanh lão tử, sầu, bi, khổ,
ưu, não sanh khởi. Như vậy, này
Ananda, là sự tập khởi của toàn
bộ khổ uẩn này.
Nhưng do sự diệt trừ, sự ly tham
hoàn toàn của chính vô minh này,
các hành diệt; do các hành diệt,
danh sắc diệt; do danh sắc diệt,
lục nhập diệt; do lục nhập diệt,
xúc diệt; do xúc diệt, thọ diệt;
do thọ diệt, ái diệt; do ái
diệt, thủ diệt; do thủ diệt, hữu
diệt; do hữu diệt, sanh diệt; do
sanh diệt, lão tử, sầu, bi, khổ,
ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự
đoạn diệt hoàn toàn của khổ uẩn
này. Cho đến như vậy, này
Ananda, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về duyên
sinh". Chú thích
Duyên sinh hay
duyên khởi là đề tài lớn
trong Phật học. Giáo lý duyên
sinh cho thấy sự phiến diện của
nhận thức nếu chỉ nhìn vào sự
trạng mà không thấy được nguyên
nhân xa gần. Thí dụ như một đứa
trẻ có thái độ khó dạy không hẳn
là vì cứng đầu mà có thể do muốn
sự chú ý từ người lớn bởi cảm
giác thiếu tình thương. Duyên
sinh phủ nhận địa vị độc tôn của
thượng đế. Duyên sinh phủ nhận
lập luận ngẫu nhiên của vạn hữu.
Duyên sinh phủ nhận sự biến mất
mà không để lại hệ quả (theo cái
nhìn đoạn kiến) và cũng phủ nhận
sự tồn tại vĩnh hằng của pháp
hữu vi vì vai trò giới hạn trong
thời điểm nhất định.
(Xứ phi xứ)
-- Nhưng cho đến mức độ nào,
bạch Thế Tôn, là vừa đủ để nói:
"Tỷ-kheo thiện xảo về xứ phi
xứ?"
-- Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
biết rõ rằng: "Sự kiện này không
có xảy ra, không có hiện hữu:
khi một người thành tựu (chánh)
kiến lại đi đến các hành
(samkhara) và xem là thường còn.
Sự kiện như vậy không xảy ra".
Và vị ấy biết rằng: "Sự kiện này
có xảy ra, có hiện hữu: Khi một
người phàm phu đi đến các hành
và xem là thường còn. Sự hiện
như vậy có xảy ra". Vị ấy biết
rõ rằng: "Sự kiện này không có
xảy ra, không có hiện hữu: Khi
một người thành tựu (chánh)
kiến, lại có thể đi đến các hành
với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như
vậy không có xảy ra". Và vị ấy
biết rõ rằng: "Sự kiện này có
xảy ra, có hiện hữu: Khi một
người phàm phu đi đến các hành
với ý niệm lạc thọ. Sự kiện như
vậy có xảy ra". Vị ấy biết rằng:
"Sự kiện này không có xảy ra,
không có hiện hữu: Khi một người
nào thành tựu (chánh) kiến, lại
có thể đi đến các pháp với ý
niệm tự ngã. Sự kiện như vậy
không có xảy ra". Và vị ấy biết
rằng: "Sự kiện này có xảy ra, có
hiện hữu: Khi một người phàm phu
đi đến các pháp với ý niệm tự
ngã. Sự kiện như vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: khi một người thành tựu
(chánh) kiến, có thể giết sinh
mạng người mẹ. Sự kiện như vậy
không có xảy ra". Và vị ấy biết
rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra:
Khi một người phàm phu có thể
giết sinh mạng người mẹ. Sự kiện
như vậy có xảy ra". Vị ấy biết
rõ rằng: "Sự kiện này không có
xảy ra, không có hiện hữu: Khi
một người thành tựu (chánh)
kiến, có thể giết sinh mạng
người cha... có thể giết sinh
mạng A-la-hán.. Vị ấy biết rõ
rằng: "Sự kiện này không có xảy
ra, không có hiện hữu: Khi một
người thành tựu (chánh) kiến có
thể với ác tâm làm Như Lai chảy
máu. Sự kiện như vậy không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra: Khi một
người phàm phu với ác tâm làm
Như Lai chảy máu. Sự kiện như
vậy có xảy ra". Vị ấy biết rõ
rằng: "Sự kiện này không có xảy
ra, không có hiện hữu: Khi một
người thành tựu (chánh) kiến có
thể phá hòa hợp Tăng. Sự kiện
như vậy không xảy ra". Và vị ấy
biết rõ rằng: "Sự kiện này có
xảy ra: Khi một người phàm phu
có thể phá hòa hợp với Tăng. Sự
kiện như vậy có xảy ra". Vị ấy
biết rõ rằng: "Sự kiện này không
có xảy ra, không có hiện hữu:
Khi một người thành tựu (chánh)
kiến có thể đề cao một Ðạo sư
khác. Sự kiên như vậy không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra: Khi một
người phàm phu đề cao một Ðạo sư
khác. Sự kiện như vậy có xảy
ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi cùng trong một thế giới
(lokadhatu), hai A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác có thể xuất hiện (một
lần) không trước không sau. Sự
kiện như vậy không có xảy ra".
Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện
này có xảy ra: Khi cùng trong
một thế giới, một A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác có thể xuất
hiện. Sự kiện như vậy có xảy
ra". Vị ấy biết rõ rằng: "Sự
kiện này không có xảy ra: Khi
cùng trong một thế giới, hai vua
Chuyển Luân có thể xuất hiện
(một lần), không trước không
sau. Sự kiện như vậy không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra: Khi
trong một thế giới, một vị vua
Chuyển Luân có thể xuất hiện. Sự
kiện như vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi một nữ nhân có thể
thành A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác.
Sự kiện như vậy không có xảy
ra". Và vị ấy biết rõ rằng: Sự
kiện này có xảy ra: Khi một nam
nhân có thể thành một A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác. Sự kiện như vậy
có xảy ra. "Vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này không có xảy ra,
không có hiện hữu: Khi một nữ
nhân có thể thành Sakka (Ðế
-thích). Sự kiện như vậy không
có xảy ra". Và vị ấy biết rõ
rằng: "Sự kiện này có xảy ra, có
hiện hữu: Khi một nam nhân có
thể trở thành Sakka. Sự kiện như
vậy có xảy ra". Vị ấy biết rõ
rằng: "Sự kiện này không có xảy
ra, không có hiện hữu: Khi một
nữ nhân có thể trở thành Ma
vương. Sự kiện như vậy không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra khi một
nam nhân trở thành một Ma vương.
Sự kiện như vậy có xảy ra". Vị
ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi một nữ nhân có thể trở
thành Phạm thiên. Sự kiện như
vậy không có xảy ra". Và vị ấy
biết rõ rằng: "Sự kiện này có
xảy ra: Khi một nam nhân có thể
trở thành Phạm thiên. Sự kiện
này như vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi một thân ác hành có thể
sanh ra quả báo khả ái, khả hỷ,
khả lạc. Sự kiện này không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra: Khi một
thân ác hành có thể sanh ra quả
báo không khả ái, không khả hỷ,
không khả lạc. Sự kiện như vậy
có xảy ra". Vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này không có xảy ra,
không có hiện hữu: Khi một khẩu
ác hành... Khi một ý ác hành có
thể sanh ra quả báo khả ái, khả
hỷ, khả lạc. Sự kiện như vậy
không có xảy ra". Và vị ấy biết
rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra:
Khi một ý ác hành có thể sanh ra
quả báo không khả ái, không khả
hỷ, không khả lạc. Sự kiện như
vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi một thân thiện hành có
thể sanh ra quả báo không khả
ái, không khả hỷ, không khả lạc.
Sự kiện như vậy không có xảy
ra". Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự
kiện này có xảy ra: Khi một thân
thiện hành có thể sanh ra quả
báo khả ái, khả hỷ, khả lạc. Sự
kiện như vậy có xảy ra". Vị ấy
biết rõ rằng: "Sự kiện này không
có xảy ra, không có hiện hữu:
Khi một khẩu thiện hành... một ý
thiện hành có thể sanh ra quả
báo không khả ái, không khả hỷ,
không khả lạc. Sự kiện như vậy
không có xảy ra". Và vị ấy biết
rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra:
Khi một ý thiện hành có thể sanh
ra quả báo khả ái, khả hỷ, khả
lạc. Sự kiện như vậy có xảy ra".
Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này
không có xảy ra, không có hiện
hữu: Khi một người hành trì thân
ác hành, do nhân thân ác hành
ấy, do duyên thân ác hành ấy sau
khi thân hoại mạng chung, có thể
sanh thiện thú, thiên giới, cõi
đời này. Sự kiện như vậy không
có xảy ra". Và vị ấy biết rõ
rằng: "Sự kiện này có xảy ra:
Khi một người hành trì thân ác
hành, do nhân thân ác hành ấy,
do duyên thân ác hành ấy, sau
khi thân hoại mạng chung, có thể
sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục. Sự kiện này có xảy
ra". Vị ấy biết rõ rằng sự kiện
này không có xảy ra, không có
hiện hữu: Khi một người hành trì
khẩu ác hành... hành trì ý ác
hành, do nhân ý ác hành ấy, do
duyên ý ác hành ấy, sau khi thân
hoại mạng chung, có thể sanh lên
thiện thú, thiên giới, cõi đời
này. Sự kiện như vậy không có
xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng:
"Sự kiện này có xảy ra, khi một
người hành trì khẩu ác hành... ý
ác hành, sau khi thân hoại mạng
chung có thể sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện
như vậy có xảy ra". Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra". Và vị ấy biết rằng: "Sự kiện này có xảy ra: Khi một người hành trì thân thiện hành, do nhân thân thiện hành ấy, do duyên thân thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra". Vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này không có xảy ra, không có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành... hành trì thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Sự kiện như vậy không có xảy ra". Và vị ấy biết rõ rằng: "Sự kiện này có xảy ra, có hiện hữu: Khi một người hành trì khẩu thiện hành... hành trì ý thiện hành, do nhân ý thiện hành ấy, do duyên ý thiện hành ấy, có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này. Sự kiện như vậy có xảy ra"
Cho đến mức độ như vậy, là vừa
đủ để nói: "Tỷ-kheo thiện xảo về
xứ phi xứ".
Chú thích
Những điều có thể và không thể ở
đây tạo nên sự khác biệt sâu sắc
giữa Phật giáo nguyên thuỷ và
Phật giáo phát triển sau nầy.
Nếu đi vào chi tiết sẽ thấy
những trọng điểm tạo nên ngã rẽ
giữa hai truyền thống Nam Tông
Bắc Tông ngày nay trên cả hai
phương diện văn hoá và hành trì.
Vài thí dụ đơn cữ như “không thể
có hai vị Chánh Đẳng Chánh Giác
ra đời cùng lúc trong một hệ
thống thế giới”, hay “một bậc
chí tôn mang thân nữ nhân"
hoặc vì “phương tiện
nghịch hành” mà một hành động
bất thiện trở thành thiện như
“sát nhất miêu cứu vạn thử” …
Khi được nghe nói vậy, Tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn: -- Thật vi
diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy
hữu thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế
Tôn, pháp môn này có tên gì?
-- Do vậy, này Ananda, Ông hãy
thọ trì pháp môn này là Ða giới,
hãy thọ trì pháp môn nầy là Bốn
chuyển (Catuparivaṭṭo) hãy thọ
trì pháp môn này là Pháp kính
(Dhammadasa), hãy thọ trì pháp
môn này là Trống bất tử
(Amatadundubhī) , hãy thọ trì
pháp môn này là Vô thượng chiến
thắng (Anuttaro saṅgāmavijayo).
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Việt
Chú thích
Đoạn sau cùng của bài kinh cho
thấy sự hân hoan không tả của
một bậc thủ trì chánh pháp là
Tôn giả Ananda trong sự cảm nhận
vi diệu chánh pháp. Câu trả lời
của Đức Phật cũng tạo nên những
tiết tấu đầy thi vị khi bản ca
chánh pháp được trỗi lên. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |