|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 15 tháng 05, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Ngã chấp vốn cái gì ăn sâu, gắn
chặt vào cái nhìn của muôn loại.
Người ta vui sướng với ngã chấp
nhưng ít khi thấy được khổ đau
cũng từ đó mà ra. Muốn thay đổi
cái nhìn sai lạc nầy không đơn
giản. Phải thấy sự hiện hữu là
giả hợp của nhiều thành tố: sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Mỗi
thành tố có tự tánh riêng. Không
có chủ quyền để bảo năm uẩn phải
thế nầy hay đừng như thế khàc.
Năm uẩn vô thường nên khổ. Và do
vậy vô ngã. Phải quán triệt “dù
năm uẩn quá khứ, vị lai, hiện
tại, bên trong, bên ngoài, thô
thiển,vi tế, hạ liệt, thù thắng,
gần hoặc xa tất cả đều có bản
chất như nhau. Cái nhìn nhất thể
dẫn đến quán triệt toàn bộ.
“Không vướng mắc là giải thoát”.
Ekaṃ samayaṃ bhagavā bārāṇasiyaṃ
viharati isipatane migadāye.
Tatra kho bhagavā pañcavaggiye
bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā
etadavoca:
Một thuở Đức Thế
Tôn ngự ở Bārāṇasi (Ba-la-nại),
tại Isīpatana (Chư Tiên đọa xứ),
vườn Lộc Giả.
Tại đấy Đức Thế
Tôn nói với nhóm năm tỳ khưu:
“Này chư Tỳ khưu”. Chư tỳ khưu
trả lời: “Dạ, bạch Đức Thế Tôn”.
Đức Thế Tôn nói như sau:
“Rūpaṃ, bhikkhave, anattā.
Rūpañca hidaṃ, bhikkhave, attā
abhavissa, nayidaṃ rūpaṃ
ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha
ca rūpe: ‘evaṃ me rūpaṃ hotu,
evaṃ me rūpaṃ mā ahosī’ti. Yasmā
ca kho, bhikkhave, rūpaṃ anattā,
tasmā rūpaṃ ābādhāya saṃvattati,
na ca labbhati rūpe: ‘evaṃ me
rūpaṃ hotu, evaṃ me rūpaṃ mā
ahosī’ti.
Vedanā anattā. …pe…
Viññāṇaṃ anattā. Viññāṇañca
hidaṃ, bhikkhave, attā
abhavissa, nayidaṃ viññāṇaṃ
ābādhāya saṃvatteyya, labbhetha
ca viññāṇe: ‘evaṃ me viññāṇaṃ
hotu, evaṃ me viññāṇaṃ mā
ahosī’ti. Yasmā ca kho,
bhikkhave, viññāṇaṃ anattā,
tasmā viññāṇaṃ ābādhāya
saṃvattati, na ca labbhati
viññāṇe: ‘evaṃ me viññāṇaṃ hotu,
evaṃ me viññāṇaṃ mā ahosī’ti.
--Này
chư Tỳ khưu, sắc
là vô ngã.
Này chư Tỳ khưu, nếu sắc là ta, thì không bị đau khổ.
Hơn nữa, thì có thể nói
“sắc hãy
như thế nầy, đừng như thế kia”.
Này chư Tỳ khưu, sắclà vô ngã. Do vậy không
thể nói ““sắc hãy như thế nầy,
đừng như thế kia”.
Thọ là vô ngã….
Taṃ kiṃ maññatha, bhikkhave,
rūpaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
“Aniccaṃ, bhante”.
“Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ: ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
Này chư Tỳ khưu,
các Thầy nghĩ thế nào? Sắc là
thường hay vô thường?
—Cái gì vô
thường, khổ, chịu sự biến hoại,
có hợp lý chăng khi cho rằng:
“Cái này là của ta, cái
này là ta, cái này là tự ngã của
ta”?
—Thưa không,
bạch Đức Thế Tôn.
“Yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ
vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ: ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṃ, bhante”.
—Thọ … Tưởng …
hành …
“Tasmātiha, bhikkhave, yaṃ kiñci
rūpaṃ atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā
oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā,
sabbaṃ rūpaṃ: ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
Yā
kāci vedanā
atītānāgatapaccuppannā ajjhattā
vā bahiddhā vā …pe… yā dūre
santike vā, sabbā vedanā: ‘netaṃ
mama, nesohamasmi, na meso
attā’ti evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
Yā
kāci saññā …pe…
ye
keci saṅkhārā
atītānāgatapaccuppannā ajjhattaṃ
vā bahiddhā vā …pe… ye dūre
santike vā, sabbe saṅkhārā:
‘netaṃ mama, nesohamasmi, na
meso attā’ti evametaṃ
yathābhūtaṃ sammappaññāya
daṭṭhabbaṃ.
Yaṃ kiñci viññāṇaṃ
atītānāgatapaccuppannaṃ
ajjhattaṃ vā bahiddhā vā
oḷārikaṃ vā sukhumaṃ vā hīnaṃ vā
paṇītaṃ vā yaṃ dūre santike vā,
sabbaṃ viññāṇaṃ: ‘netaṃ mama,
nesohamasmi, na meso attā’ti
evametaṃ yathābhūtaṃ
sammappaññāya daṭṭhabbaṃ.
Này chư Tỳ khưu, do vậy bất cứ
sắc nào dù trongquá khứ, vị lai, hiện
tại, bên trong, bên ngoài, thô
thiển,vi tế, hạ liệt, thù thắng,
gần hoặc xa tất cả đều cần phải
thấy đúng theo thực tánh là
“Cái này không là của ta,
cái này không là ta, cái này
không phài là tự ngã của ta”
Bất cứ thọ nào …
Evaṃ passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako rūpasmimpi
nibbindati, vedanāyapi
nibbindati, saññāyapi
nibbindati, saṅkhāresupi
nibbindati, viññāṇasmimpi
nibbindati. Nibbindaṃ virajjati;
virāgā vimuccati. Vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti.
Này chư Tỳ khưu,
vị thánh đệ tử có học hiểu thấy
vậy sanh tâm yểm ly đối với sắc,
yểm ly đối với thọ, yểm ly đối
với tưởng, yểm ly đối với hành,
yểm ly đối với thức. Do yểm ly
vị ấy ly tham. Do ly tham, tâm
được giải thoát.
Khi tâm được giải thoát vị ấy biết rõ:
“Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa”.
Idamavoca bhagavā. Attamanā
pañcavaggiyā bhikkhū bhagavato
bhāsitaṃ abhinanduṃ. Imasmiñca
pana veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne
pañcavaggiyānaṃ bhikkhūnaṃ
anupādāya āsavehi cittāni
vimucciṃsūti.
Ðức Phật thuyết giảng như vậy,
năm thầy Tỳ khưu hoan hỷ tín
thọ. Khi những điều nầy được nói
lên thì tâm của năm thầy Tỳ kheo
được giải thoát các lậu hoặc do
không
còn chấp thủ nữa.
Chú Thích
Đây là bài kinh có hai bản trùng
tuyên: một của Tôn giả Upāli
được ghi trong Luật Tạng (Vin I
13-14) và bản thứ hai, bài kinh
nầy do Tôn giả Ananda kết tập.
Có vài điểm nhỏ khác biệt trong
cách dẫn nhập nhưng Phật ngôn
thì hoàn toàn giống nhau.
Theo Sớ giải thì bài kinh nầy
được Đức Phật dạy vào đêm thứ
năm sau khi thuyết Kinh Chuyển
Pháp Luân. Sau pháp thoại đầu
tiên, Tôn giả Kondañña (Kiều
Trần Như) chứng sơ quả nhập lưu.
Những ngày sau đó, bốn vị còn
lại suy gẫm, tu tập lần lượt
chứng sơ quả. Khi tất cả đều là
bậc nhập lưu thì Đức Phật dạy
bài kinh nầy. Nghe xong tất cả
năm vị đều trở thầy bậc vô sanh
ứng cúng.
Cụm từ pañcavaggiye bhikkhū –
Nhóm Năm Tỳ Khưu - gồm các ngài
Kondañña, Bhaddiya, Vappa,
Mahānāma, Assaji năm năm vị
thành viên đầu tiên của Tăng Bảo
trong Giáo Pháp của Đức Phật
hiện tại.
Ngài
Kondañña (Kiều Trần Như) là
vị bà la môn thông thái trẻ tuổi
nhất trong 8 vị bà la môn xem
tướng để đặt tên cho bồ tát sơ
sinh. Sau nầy khi nghe tin, Đức
Bồ Tát rời hoàng cung xuất gia,
Ngài Kondañña đã kêu gọi những
người con của các bà la môn xem
tướng đi theo với niềm tin là
Đức Bồ Tát sẽ chứng đạo vô
thượng. Khi Đức Bồ Tát thực hành
trung đạo từ bỏ khổ hạnh, năm vị
nầy thất vọng bỏ đi.
Bài kinh nầy thường được dịch là
Kinh Vô Ngã Tướng. Nên phân biệt
chữ “tướng” được dùng để dịch
hai chữ. Một là dịch chữ nimitta
như kammanimitta (nghiệp tướng)
chỉ chò sự biểu thị bên ngoài.
Hai là dịch từ chữ lakkhana chỉ
cho trạng thái. Chữ vô ngã tướng
ở đây chỉ cho sự trạng vô ngã.
Bài kinh nêu lên hai ý nghĩa
chính của vô ngã trong Phật
Pháp. Ý nghĩa đầu tiên, vô ngã
có nghĩa là không có chủ quyền
(avasavatitā). Nếu có chủ quyền
thật sự thỉ có thể ra lệnh “như
thế nầy hay đừng như thế kia”. Ý
nghĩa thứ hai, vô ngã (anatta)
là do vô thường và khổ não. “Cái
gì vô thường, khổ, chịu sự biến
hoại, có hợp lý chăng khi cho
rằng: ” “Cái này là của ta, cái
này là ta, cái này là tự ngã của
ta”?
Khi Đức Phật thuyết giảng bài
kinh nầy Ngài đi vào từng uẩn
một (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) là hướng dẫn theo pháp
hành để người nghe quán chiếu.
Khi kết tập kinh điển, theo pháp
học, thì nếu lập lại từng uẩn
như vậy sẽ rất dài nên có cách
trùng tụng ngắn gọn. Bản dịch
rút gọn theo chánh văn.
Sự chấp thủ “Cái này là của ta,
cái này là ta, cái này là tự ngã
của ta -etaṃ mama, esohamasmi,
eso me attā’” chỉ cho ba căn
bệnh trầm kha của chúng sanh là
ái chấp, mạn châp, và kiến chấp.
Bài kinh nầy là một trong những
kinh văn tụng đọc rất phổ biến ở
các quốc gia theo Phật giáo Nam
Truyền. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |