|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 18 tháng 05, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
****** ![]()
Người ta thường nghĩ cái gì khổ
thì không lạc mà lạc thì không
khổ. Đức Phật dạy nên biết cả
hai mặt. Nếu không biết khía
cạnh lạc thú thì sẻ không hiểu
tại sao bản thân bị cuốn hút đắm
nhiễm. Nếu không có mặt khổ luỵ
thì không có điểm tựa để nhàm
chán vượt thoát. Thay vì chỉ lập
luận đời là thế nầy hay thế kia
thì người tu tập biết cái gì là
hấp lực và cái gì là điểm tựa để
vượt thoát. Cái nhìn phiến diện
không thật sự giúp ích cho hành
trình chuyển hóa.
Evaṃ me sutaṃ—ekaṃ samayaṃ bhagavā vesāliyaṃ
viharati mahāvane
kūṭāgārasālāyaṃ.
Atha kho mahāli licchavi yena bhagavā
tenupasaṅkami …pe… ekamantaṃ
nisinno kho mahāli licchavi
bhagavantaṃ etadavoca:
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Vesālī, vùng
Ðại
Lâm, tại Trùng Các giảng đường.
Bấy giờ Mahāli, người Licchavi, đi đến Đức Thế Tôn, đảnh
lễ và ngồi xuống một bên.
Mahāli, người Licchavi, bạch với
Đức Thế Tôn:
“Pūraṇo, bhante, kassapo evamāha: ‘natthi
hetu natthi paccayo sattānaṃ
saṅkilesāya; ahetū appaccayā
sattā saṅkilissanti. Natthi hetu
natthi paccayo sattānaṃ
visuddhiyā; ahetū appaccayā
sattā visujjhantī’ti. Idha
bhagavā kimāhā”ti?
—Bạch Đức Thế Tôn. Purāna
Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp),
bạch Thế Tôn, nói như sau:
“Không
nhân, không duyên (tạo nên) sự
nhiễm ô của chúng sanh.
“Atthi, mahāli, hetu atthi paccayo sattānaṃ saṅkilesāya; sahetū
sappaccayā sattā saṅkilissanti.
Atthi, mahāli, hetu, atthi
paccayo sattānaṃ visuddhiyā;
sahetū sappaccayā sattā
visujjhantī”ti.
—Này Mahāli, “Có nhân, có duyên
tạo nên sự nhiễm ô của chúng
sanh. Chúng sanh ô nhiễm do
nhân,
do duyên. Có nhân, có
duyên tạo nên sự thanh tịnh của
chúng sanh. Chúng sanh thanh
tịnh do nhân, do duyên”.
“Katamo pana, bhante, hetu katamo paccayo sattānaṃ saṅkilesāya;
kathaṃ sahetū sappaccayā sattā
saṅkilissantī”ti?
—Bạch Đức Thế Tôn. do nhân gì,
do duyên gì chúng sanh ô nhiễm?
Chúng sanh ô nhiễm do nhân,
do duyên như thế nào?
“Rūpañca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhaṃ abhavissa dukkhānupatitaṃ
dukkhāvakkantaṃ anavakkantaṃ
sukhena, nayidaṃ sattā rūpasmiṃ
sārajjeyyuṃ. Yasmā ca kho,
mahāli, rūpaṃ sukhaṃ
sukhānupatitaṃ sukhāvakkantaṃ
anavakkantaṃ dukkhena, tasmā
sattā rūpasmiṃ sārajjanti;
sārāgā saṃyujjanti; saṃyogā
saṅkilissanti. Ayaṃ kho, mahāli,
hetu, ayaṃ paccayo sattānaṃ
saṅkilesāya; evaṃ sahetū
sappaccayā sattā saṅkilissanti.
—Này Mahāli, nếu sắc chỉ có khổ
luỵ, ngâm tẩm
khổ luỵ, nghiêng nặng khổ
luỵ mà không có lạc thú thì
chúng sanh không chiếm ngự bởi
sắc. Bởi vì sắc có lạc thú, ngâm
tẩm trong lạc thú, nghiêng năng
lạc thú nên chúng sanh bị chiếm
ngự bởi sắc. Do tham đắm nên bị
cột trói, do cột trói nên ô
nhiễm. Đây la nhân, là duyên tạo
nên sự nhiễm ô của chúng sanh.
Vedanā ca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhā abhavissa dukkhānupatitā
dukkhāvakkantā anavakkantā
sukhena, nayidaṃ sattā vedanāya
sārajjeyyuṃ. Yasmā ca kho,
mahāli, vedanā sukhā
sukhānupatitā sukhāvakkantā
anavakkantā dukkhena, tasmā
sattā vedanāya sārajjanti;
sārāgā saṃyujjanti; saṃyogā
saṅkilissanti. Ayampi kho,
mahāli, hetu, ayaṃ paccayo
sattānaṃ saṅkilesāya. Evampi
sahetū sappaccayā sattā
saṅkilissanti.
Saññā ca hidaṃ, mahāli …pe…
saṅkhārā ca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhā abhavissaṃsu
dukkhānupatitā dukkhāvakkantā
anavakkantā sukhena, nayidaṃ
sattā saṅkhāresu sārajjeyyuṃ.
Yasmā ca kho, mahāli, saṅkhārā
sukhā sukhānupatitā
sukhāvakkantā anavakkantā
dukkhena, tasmā sattā saṅkhāresu
sārajjanti; sārāgā saṃyujjanti;
saṃyogā saṅkilissanti. Ayampi
kho, mahāli, hetu, ayaṃ paccayo
sattānaṃ saṅkilesāya. Evampi
sahetū sappaccayā sattā
saṅkilissanti.
Viññāṇañca hidaṃ, mahāli, ekantadukkhaṃ abhavissa dukkhānupatitaṃ
dukkhāvakkantaṃ anavakkantaṃ
sukhena, nayidaṃ sattā
viññāṇasmiṃ sārajjeyyuṃ. Yasmā
ca kho, mahāli, viññāṇaṃ sukhaṃ
sukhānupatitaṃ sukhāvakkantaṃ
anavakkantaṃ dukkhena, tasmā
sattā viññāṇasmiṃ sārajjanti;
sārāgā saṃyujjanti; saṃyogā
saṅkilissanti. Ayampi kho,
mahāli, hetu ayaṃ paccayo
sattānaṃ saṅkilesāya. Evampi
sahetū sappaccayā sattā
saṅkilissantī”ti.
Này Mahāli, nếu thọ chỉ có khổ
luỵ …
Này Mahāli, nếu thức chỉ có khổ
luỵ, ngâm tẩm khổ luỵ, nghiêng
nặng khổ luỵ mà không có lạc thú
thì chúng sanh không chiếm ngự
bởi thức. Bởi vì thức có lạc
thú, ngâm tẩ, lạc thú, nghiêng
năng lạc thú nên chúng sanh bị
chiếm ngự bởi sắc. Do tham đắm
nên bị cột trói, do cột trói nên
ô nhiễm. Đây la nhân, là duyên
tạo nên sự nhiễm ô của chúng
sanh.
“Katamo pana, bhante, hetu katamo paccayo sattānaṃ visuddhiyā;
kathaṃ sahetū sappaccayā sattā
visujjhantī”ti?
—Bạch Đức Thế Tôn. do nhân gì,
do duyên gì chúng sanh thanh
tịnh? Chúng sanh thanh tịnh do
nhân,
do duyên như thế nào?
“Rūpañca hidaṃ, mahāli, ekantasukhaṃ abhavissa sukhānupatitaṃ
sukhāvakkantaṃ anavakkantaṃ
dukkhena, nayidaṃ sattā rūpasmiṃ
nibbindeyyuṃ. Yasmā ca kho,
mahāli, rūpaṃ dukkhaṃ
dukkhānupatitaṃ dukkhāvakkantaṃ
anavakkantaṃ sukhena, tasmā
sattā rūpasmiṃ nibbindanti;
nibbindaṃ virajjanti; virāgā
visujjhanti. Ayaṃ kho, mahāli,
hetu, ayaṃ paccayo, sattānaṃ
visuddhiyā. Evaṃ sahetū
sappaccayā sattā visujjhanti.
—Này
Mahāli, nếu sắc chỉ có lạc thú,
ngâm tẩm lạc thú, nghiêng nặng lạc
thú mà không có khổ luỵ thì
chúng sanh không thể nhàm chán
sắc. Bởi vì sắc có khổ luỵ, ngâm
tẩm khổ luỵ, nghiêng nặng khổ
luỵ nên chúng sanh có thể nhàm
chán sắc. Do nhàm chán nên ly
tham, do ly tham nên được thanh
tịnh. Đây la nhân, là duyên tạo
nên sự thanh tịnh của chúng sanh.
Vedanā ca hidaṃ, mahāli, ekantasukhā abhavissa …pe…
saññā ca hidaṃ, mahāli …pe…
saṅkhārā ca hidaṃ, mahāli, ekantasukhā abhavissaṃsu …pe…
viññāṇañca hidaṃ, mahāli, ekantasukhaṃ abhavissa sukhānupatitaṃ
sukhāvakkantaṃ anavakkantaṃ
dukkhena, nayidaṃ sattā
viññāṇasmiṃ nibbindeyyuṃ. Yasmā
ca kho, mahāli, viññāṇaṃ dukkhaṃ
dukkhānupatitaṃ dukkhāvakkantaṃ
anavakkantaṃ sukhena, tasmā
sattā viññāṇasmiṃ nibbindanti;
nibbindaṃ virajjanti; virāgā
visujjhanti. Ayaṃ kho, mahāli,
hetu, ayaṃ paccayo, sattānaṃ
visuddhiyā. Evampi sahetū
sappaccayā sattā visujjhantī”ti.
Này Mahāli, nếu thọ chỉ có
lạc thú
Này Mahāli, nếu thức chỉ có lạc
thú, ngâm tẩm
lạc thú, nghiêng nặng lạc
thú mà không có khổ luỵ thì
chúng sanh không thể nhàm chán
thức. Bởi vì thức có khổ luỵ,
ngâm tẩm khổ luỵ, nghiêng nặng
khổ luỵ nên chúng sanh có thể
nhàm chán thức. Do nhàm chán nên
ly tham, do ly tham nên được
thanh tịnh. Đây la nhân, là
duyên tạo nên sự thanh tịnh của
chúng sanh
Chú Thích
Mahāvana
- Đại Lâm là tên riêng của một
cánh rừng kéo dài từ chân núi Hy
Mã Lạp tới xứ Vesāli. Đây là một
địa danh quen thuộc trong kinh
điển Phật giáo.
Mahāli là một tộc trưởng người
Licchavi. Thuở thiếu thời từng
du học Takkasilā. Sau khi tốt
nghiệp hồi hương trở thành nhà
giáo dục tài ba của xứ Vajjī.
Ông là bậc thánh tu đà huờn. Là
người đến Rājagaha thỉ Đức Phật
và chư tăng về Vesāli khi nơi
nầy bị đại dịch. Vợ của Mahāli
là đại tín nữ
Suppavāsā và cũng là
thân sinh của Tôn giả Sīvalī,
một bậc a la hán được xem là đệ
nhất về phước báu cúng dường.
(Theo một số tư liệu thì Mahāli
sau nầy tạo nên vương triều Đại
Lý ở Vân Nam Trung Quốc ngày
nay)
Pūraṇa Kassapa
– âm Hán Việt là Phú Lan Na Ca Diếp – mà một trong lục sư ngoại đạo đương
thời với Đức Phật.
Giáo
thuyết của vị nầy nói đại cương
là “thuyết ngẫu nhiên” và mọi sự
ở đời. Quan điểm nầy cho rằng
xấu tốt vốn không có nguyên nhân
trước (ahetukavāda – vô nhân
kiến. Trong kinh Sa Môn Quả (DN
I 53,24-28) thì giáo thuyết nầy
thuộc về một đạo sư ngoại giái
khác là Makkhali Gosāla. Và
Pūraṇa Kassapa
được biết là người chủ
trương mọi hành vi không có quả
báo
(akiriyavāda
– hay vô hành kiến). Tuy luận cứ
có sai biệt nhưng đồng mang cùng
chủ trương không có nhân quả
nghiệp báo. Tỳ kheo Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình.
-ooOoo- |