|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 31, tháng 05, 2024 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA) Bài 86. LIỆT KÊ SẮC PHÁP (rūpasamuddesa)
... Cattāri
mahābhūtāni, catunnañ ca mahābhūtānaṁ upādāya rūpan ti
duvidham p’etaṁ rūpaṁ ekādasavidhena sangahaṁ gacchati. Sắc pháp
có hai: Sắc đại chủng và sắc y sinh. Gom chung cả hai được
phân làm 11 nhóm. Kathaṁ?
(Loại Thành
Phẩm - nipphanna rūpa) 2. Cakkhu, sotaṁ, ghānaṁ, jihvā, kāyo pasādarūpaṁ nāma. 3. Rūpaṁ, saddo, gandho, raso, āpodhātuvajjitaṁ bhūtattaya-sankhātaṁ phoṭṭhabbaṁ gocararūpaṁ nāma. 4. Itthattaṁ purisattaṁ bhāvarūpaṁ nāma. 5. Hadayavatthu hadayarūpaṁ nāma. 6. Jīvitindriyaṁ jīvitarūpaṁ nāma. 7. Kabaḷīkāro āhāro āhārarūpaṁ nāma. 1. Nhóm Tứ Đại: Địa giới, thủy giới, hoả giới, phong giới 2. Nhóm Thần Kinh: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân 3. Nhóm Đối Cảnh: Sắc, thinh, khí, vị. Riêng cảnh xúc bao gồm ba sắc đại chủng trừ nước (còn lại là đất, lửa, gió) 4. Nhóm Giới Tính: sắc nữ tính và sắc nam tính 5. Nhóm Ý Căn: sắc ý vật 6. Nhóm Sinh Lực: sắc mạng quyền 7. Nhóm Dưỡng Tố: sắc dinh dưỡng (Loại Thuộc Tánh - anipphanna rūpa) 9. Kāyaviññatti vacīviññatti viññattirūpaṁ nāma. 10. Rūpassa lahutā, mudutā, kammaññatā, viññattidvayaṁ vikārarūpaṁ nāma. 11. Rūpassa upacayo, santati, jaratā, aniccatā lakkhaṇarūpaṁ nāma. Jātirūpam eva pan’ettha upacayasantatināmena pavuccati. 8. Nhóm giao giới: sắc chân không 9. Nhóm biểu tri: thân biểu tri và ngữ biểu tri 10. Nhóm linh động: khinh, nhu, đa dụng 11. Nhóm biến tướng: sanh, tiến, dị, diệt Chú thích Sự liệt kê sắc pháp theo truyền
thống dễ tạo nên ngộ nhận đối với người học. Nhìn vào “biểu đồ chư pháp”, có tất
cả 28 sắc pháp. Không nên hiểu là 28 thực thể riêng biệt.
Phải đặc biệt cẩn trọng về điểm nầy. Nền tảng
của vật chất là bốn đại chủng (mahābhūta). Đó là địa
đại, thuỷ đại, hoả đại, phong đại. Địa đại là sự chiếm hữu
không gian của vật chất như biểu hiện cứng, mềm... Thuỷ đại
là sự quến tụ gắn kết của vật chất tạo nên hình tướng. Hoả
đại là nhiệt lượng nóng lạnh. Phong đại là sự dịch chuyển
như từ trường của hai cực
của tất cả vật chất ngay cả một nguyên tử.
Từ nền tảng tứ đại tạo nên những
hiện tượng vật chất gọi là sắc y sinh (upādārūpa). Có
thể tạm thí dụ sắc tứ đại như xi măng gồm xi măng, nước,
cát, sỏi… Sắc y sinh như những thứ tạo nên bởi xi măng như
đường xá, băng ghế, pho tượng. Hoặc cũng có thể hiểu sắc tứ
đại như vàng và sắc y sinh như những thứ trang sức làm bằng
vàng.. Có tất cả 24 sắc y sinh cộng với 4 sắc đại chủng
thành 28 sắc pháp. Tất cả sắc pháp cũng được phân thành
hai: loại Thành Phẩm (nipphanna rūpa) và loại Thuộc Tánh
(anipphanna rūpa). Loại
thành phẩm (nipphanna rūpa) là sắc pháp định hình,
thành phẩm chứ không phải là tính cách hay thuộc tính. Ngài
Tịnh Sự gọi là “sắc thành tựu”. Loại thuộc tánh (anipphanna rūpa) là những gì tạo nên đặc tính của vật chất
như nhẹ, mềm, thích nghi. Không phải là thực thể cá biệt thí
dụ như “sắc dị hay lão hoá” chỉ là một phần trong sự tồn tại
của đơn vị vật chất chứ không phải là đơn vị vật chất cá
biệt. Ngài Tịnh Sự gọi loại sắc anipphanna rūpa là “sắc phi
thành tựu”
Bài học ngày 3.5.2024 (tiếp theo chú thích về sắc
pháp: NHÓM TỨ ĐẠI)
Bốn
sắc đại chủng (bhūtarūpa)
được gọi là nguyên tố (dhātu) mang ý nghĩa là là có tự
tánh riêng (sabhāva). Bốn sắc đại chủng luôn có mặt
trong tất cả sắc pháp (hay vật chất). Và luôn luôn đi
chung, nói cách khác không có vật chất nào thiếu một
trong bốn sắc đại chủng.
Địa đại hay nguyên tố đất
(paṭhavīdhātu)
là sự chiếm hữu không gian qua thể cứng mềm. Chữ paṭhavī
nguyên nghĩa là giản nở hay lan rộng vì mang đặc tính
chiếm ngự. Địa đại được xem là cơ sở nền tảng cho thủy
đại, hoả đại, phong đại. Sự biến hoá của địa đại là nhận
chịu. Ba đại còn là là nhân cần thiết. Địa đại có thể
cảm nhận qua xúc giác là sự cứng hay mềm quan đụng chạm
qua cảm nhận của thân thức.
Thuỷ đại hay nguyên tố nước (āpodhātu)
lả sự gắn kết hay quến tụ của các phân tử vật
chất nhờ vậy tạo nên hình tướng và không rời rã. Ba đại
còn là là nhân cần thiết của thuỷ đại. Theo Thắng Pháp
thì thuỷ đại không thể nhận biết bằng ngũ quan mà chỉ có
thể biết qua khái niệm của hiểu biết khi các khối vật
chất có dạng thức riêng biệt do phân tử gắn kết.
Hoả đại hay nguyên tố lửa (tejodhātu) là nhiệt
lượng. Khi nói tới lửa thì người ta nghĩ tới độ nóng.
Thực tế thì nóng hay là đều là nhiệt lượng. Nhiệt độ
thoải mái cho con người ở 72 độ F (22 độ C) hoặc nhiệt
độ làm nước đông đặc là 32 độ F (hay 0 độ C) chỉ là quy
ước đo đạt y cứ trên phương diện nào đó gọi là nóng lạnh
(do sự thích ứng tự nhiên của cơ thể) hay liên quan tới
độ đông của nước. Nhiệt độ “nóng” đối với người Eskimo
có thể là rất lạnh đối với người sanh ra và lớn lên ở
vùng nhiệt đới. Tất cả đều nằm trong nhiệt lượng. Hoả
đại có vai trò như năng lượng (energy) trong vật lý ngày
nay và khíến cho vật chất đạt đến mức độ “thành toàn”.
Cũng do hoả đại mà vật chất được mềm mại. Xúc giác nhận
biết hoả đại qua cảm giác nóng hay lạnh.
Phong đại hay nguyên tố gíó (vāyodhātu) là tác
động dịch chuyển, tạo áp lực. Hiện tượng căng phòng
(vitthambana) là một đặc tính của phong đại. Vai trò của
phong đại là chuyển động trong tất cả hiện tượng vật
chất. Ngành vật lý ngày nay xác định rõ tất cả hiện
tượng vật chất đều luôn dịch chuyển dù là một khối đá
bất động hay một viên kim cương với độ rắn rất cao. Tất
cả nguyên tử, đơn vị cực vi của vật chất.
luôn mang hiện tượng dịch chuyển.
Nhân cần thiết của phong đại là ba đại còn lại.
Phong đại có thể cảm nhận qua xúc giác với áp lực mạnh
yếu. (Nên lưu ý là tứ đại trong
Phật học bao gồm từ khái niệm bản thể
đến cách hiểu thường thức. Trên phương diện bản thể thì
tất cả vật chất từ ngọn núi lớn cho tới hạt bụi li ti
đều có bốn sắc đại chủng. Trong giọt nước cũng có hoả
đại. Trong hạt bụi cũng có thuỷ đại. Đây là cách hiểu
theo sắc pháp thuộc pháp bản thể được đề cập trong Thắng
Pháp Abhidhamma. Trên phương diện thường thức
thì đất được hiểu là đại địa bao gồm đất đá, cát, bùn …,
nước như ao hồ biển cả.., lửa như lửa bếp lửa rừng..,
gió như phong ba bão tố…qua sự cảm nhận bình thường. Trên phương diện thân quán
niệm xứ thì địa đại trong thân thể là những gì thuộc thể
rắn cứng mềm thô phù như thịt, gân, xương … thủy đại là
những gì thuộc thể lỏng như mồ hôi, nước mắt, máu, mở…
hoả đại là những gì thuộc thể ấm nhưng chất ấm tiêu hoá,
chất ấm châu thân… phong đại là những gì thuộc thể khí
như hơi thở ra vào, hơi khí vận hành trong thân… Cả ba cách hiểu trên ĐỀU ĐƯỢC
TÌM THẤY TRONG PHẬT HỌC, ĐỀU CÓ TRONG TAM TẠNG. Không
nên dùng một đoạn kinh văn nào đó để phủ nhận cách hiểu
khác biệt. Cụm từ “tứ đại bất hoà” là
cách nói văn vẻ chỉ cho thân bệnh. Cách nói nầy không có
trong Tam tạng Pāḷi nhưng có thể chấp nhận ở phương diện
nào đó giống như người ta nói “thân thể nóng hay lạnh
không bình thường” là bị bệnh. Riêng ý niệm “ngũ ấm xí
thạnh” trong khổ để thì không có trong kinh điển Pāḷi mà
thay vào đó là “năm thủ uẩn là khổ”) _________________
Bài học ngày 10.5.2024
(tiếp theo chú thích về sắc pháp: NHÓM TỨ ĐẠI)
SẮC THẦN KINH (Pasādarūpa) Được hiểu là sắc đóng vai trò
cơ phận sắc pháp cảm nhận cảnh của ngũ quan như
thần kinh nhãn cảm nhận cảnh sắc, thần kinh nhĩ cảm nhận
cảnh thinh… Ngài Tịnh Sự dịch là “sắc thanh triệt” do
chữ Pasāda có
ý nghĩa là trong ngần trong lúc Hoà thượng Thích
Minh Châu dịch theo bản chữ Hán là “tịnh sắc” cả hai đều
liên hệ tới ý nghĩa là loại sắc “tinh tuý” của sự sống.
Giáo trình nầy dùng từ vựng “sắc thần kinh” cũng vốn là
chữ dịch của Ngài Tịnh Sự trước kia. Chữ thần kinh
(nerve) là từ gần nhất trong sinh vật học và y học ngày
nay tương đương với
pasādarūpa. Sau nầy Ngài Tịnh Sự chọn chữ “thanh
triệt” là dịch ngữ hơn là nghĩa. Đáng chú ý là trong sắc thần
kinh (Pasādarūpa) không có “ý vật” là chỗ nương của giác
quan thứ sáu (ý thức) mà sắc ý vật được nằm riêng biệt
trong bảng liệt kê sắc pháp. Năm sắc thần kinh đóng vai
trong “căn và môn” là điều kiện bắt buộc phải có trong
khi sắc ý vật không nhất thiết như vậy (…) Trên phương diện vĩ mô, Thắng
Pháp ghi rằng năm sắc thần kinh sanh khởi từ ái chấp đối
với năm cảnh. Sự khiếm khuyết của những sắc nầy đối với
nhân loại là biểu hiện của thiếu phước hay năng lực ác
nghiệp chi phối hoặc do sự lão hoá như mắt mờ, tai điếc
của người già. Một ghi nhận khác trong Tam Tạng là mặc
dù là sắc pháp nhưng là điều kiện bắt buộc để luyện các
thần thông tam muội định. Người khiếm thị hay bị điếc
không thê luyện thiên nhãn, thiên nhĩ.
Sắc thần kinh nhãn (Cakkhupasāda) là chỗ nương
chính của nhãn thức hay thị giác. Được mô tả có dạng
tròn, nhỏ trong đồng tử mắt “giống như đầu con chí” cảm
nhận ánh sáng.
Sắc thần kinh nhĩ (Sotapasāda) là chỗ nương chính
của nhĩ thức hay thính giác. Được mô tả có dạng như lông
con cừu cong tròn nằm trong lỗ tai cảm nhận vi ba âm
thanh.
Sắc thần kinh tỷ (ghānapasāda) là chỗ nương chính
của tỷ thức hay khứu giác. Được mô tả có dạng như móng
chân con dê nằm trong lỗ mũi cảm nhận mùi hương.
Sắc thần kinh thiệt (Jivhāpasāda) là chỗ nương
chính của thiệt thức hay vị giác. Được mô tả có dạng như
đầu lông con nhím trên lưỡi cảm nhận các vị chua, cay,
mặn, ngọt….
Sắc thần kinh thân (Kāyapasāda) là chỗ nương
chính của thân thức hay xúc giác. Loại sắc nầy có khắp
châu thân ngoại trừ tóc, lông, da chết. Chính sắc thần
kinh nầy cảm nhận nóng, lạnh, cứng, mềm… Nên lưu ý là
cảm nhận cái đau thốn của mắt khi bụi lọt vào thuộc về
xúc giác chứ không phải thị giác hay như khi lưỡi bị đẹn
lở cũng thuộc về xúc giác chứ không là vị giác.
Bài học ngày 24.5.2024
NHÓM SẮC ĐỐI TƯỢNG CỦA NGŨ QUAN (Gocara rūpa) Đây là đối tượng vật chất của
thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, và xúc giác.
Riêng xúc giác mặc dù được nêu ở đây nhưng không tính là
một sắc mà được biết qua địa đại (cứng mềm), hoả đại
(nóng lạnh), và phong đại (áp suất của sự di động).
Riêng thuỷ đại không tính vì tánh cách nhận biết trừu
tượng. Nên lưu ý chữ gocara mang nhiều ý nghĩa trong Tam
Tạng. Nghĩa đen có nghĩa là vùng đất đi lại. Ở đây có
nghĩa là cảnh của ngũ quan.
Sắc cảnh sắc (rūpārammaṇa) là đối tượng của thị
giác. Chữ rūpa vừa có nghĩa là vật chất như sắc pháp nói
chung và cũng là đối tượng của mắt nói riêng. Cảnh ở đây
ở mức độ nguyên sơ như các màu xanh, vàng, đỏ, trắng,
đậm, nhạt, hay hình dạng vuông, tròn, dài, ngắn, lớn,
nhỏ…Khi một người nhìn thấy một bức tranh thì cảnh sắc
đơn thuần là màu sắc, đường nét… nhưng nếu nhận ra đó là
tranh thuỷ mạc, tranh lập thể, tranh truyền chân… thì đó
thuộc về cảnh pháp tức đối tượng của ý thức. Một điều
nêu lưu ý là ánh sáng được xem là điều kiện để mắt thấy
sắc nhưng không thấy đề cập xa hơn là cảnh sắc trong
Thắng Pháp. Sắc cảnh thinh
(Gandhaārammaṇa) là âm thanh, đối tượng của thính giác.
Một lần nữa đây là âm thanh trong dạng nguyên sơ như âm
lượng lớn nhỏ, trầm bổng, du dương hay chói tai .. Sự
phân biệt thể loại âm nhạc thuộc đối tượng của tâm thức
nhận biết cảnh pháp. Sắc cảnh khí (Gandhārammaṇa)
là tất cả mùi hương nhận biết bởi khứu giác. Nhưng cũng
chỉ là mùi ở trạng thái nguyên sơ chứ không kể là mùi
thơm của phở hay mùi nước hoa danh tiếng nào đó. Sắc cảnh vị (Rasārammaṇa) là
đối tượng của vị giác như chua, cay, mặn, ngọt. Cảnh vị
ở đây chỉ thuần là những vị được cảm nhận bởi vị giác
chứ chưa được nhận thức xa hơn như thức ăn Pháp, thức ăn
Trung Hoa.. Sắc cảnh xúc
(Phoṭṭhabbārammaṇa) một cách thú vị ở đây “không được kể
mà như được kể”. Trên con số thì không nên chỉ có 28 sắc
pháp mà trong đối nhóm đối tượng ngũ quan chỉ có bốn
(sắc, thinh, khí, vị) nhưng vẫn được đề cập vì được cảnh
của xúc giác là địa đại, hoả đại, phong đại. Theo Thắng Pháp thì khi năm
cảnh trên được nhận biết bởi ngũ quan đã mang sự khác
biệt giữa cảnh tốt và cảnh xấu do nghiệp quá khứ. Không
có trường hợp cảnh trung tính không tốt không xấu. Năm cảnh của ngũ quan được
gọi là “năm dục trưởng dưỡng (kāmaguṇa) vì đa số chúng
sanh sống hướng ngoại nên thiên nặng về ngũ dục. Năm cảnh nầy được đề cập
trong sắc pháp tương đối ngắn gọn thế nhưng khi nói về
uẩn, xứ, giới hay nhiều đề tài trong Tam Tạng thì
là một trong điểm quan trọng của Phật học. ____________
Bài học ngày 31.5.2024
Là sắc pháp tạo nên giới tính
nam nữ, đực cái, trống mái đối với chúng sanh. Chính sắc
nầy tao nên cơ phận sinh thực khí, ngoại hình, dáng
cách, giọng nói, từ đó, ảnh hưởng tới tâm lý.
Sắc nam tính (purisa bhāva) tạo nên cơ phận sinh
thực khí giống đực, ngoại hình, dáng cách, giọng nói của
người nam, giống đực.
Sắc nữ tính (itthī bhāva) tạo nên cơ phận sinh
thực khí giống cái, ngoại hình, dáng cách, giọng nói của
người nam, giống cái. Mặc dù có những trường hợp
bất thường như một người nam có thể hát giọng nữ. Hoặc
một người nữ có dáng cách như một người nam. Hay có
nhiều người mà thân thể và tâm tính không tuơng đồng về
giới tính nhnưg căn bản thì thân thể có đặc tính của một
trong hay sắc giới tính. Lưu ý: 4 sắc tiếp theo được gọi
là “nhóm” nhưng chỉ có một. Trên phương diện ngôn ngữ
nếu chỉ có một không gọi là nhóm nhưng do phân loại theo
bản liệt kê có 11 nhóm nên phải “tạm gọi”.
NHÓM Ý CĂN (HADAYAVATTHU RŪPA) Nhóm nầy chỉ có một sắc là
sắc ý vật Sắc ý vật (hadayavatthu) là chỗ nương vật chất của ý giới và ý thức giới. Chánh tạng không nêu rõ sắc ý vật hình dạng và vị trí ở đâu trong châu thân. Các bản Sớ giải và hậu sớ giái thì có nêu lên quan điểm sắc ý vật là máu tuần hoàn trong cơ thể mà điểm trung chuyển là trái tim. Nêu lưu ý vài điểm sau: A. Không phải tất cả tâm ngoài ngũ song thức đều cần sắc ý vật thậm chí chúng sanh ở cõi vô sắc hoàn toàn không có trường hợp “tâm gá vật”B. Tại Ấn dộ, cũng như một số quốc gia ảnh hưởng văn hoá Ấn, thì chữ trái tim (hadaya) thường được dùng chỉ cho tâm thức giống nhưng trong một số văn hoá trái tim là biểu thị của tình yêu. Đây là cách nói ví von chứ không phải là thực tế. C. Quan điểm sắc ý vật là máu tuần hoàn trong châu thân không được xem điều được xác nhận trong chánh tạng. D. Y khoa ngày nay có khuynh hướng giải thích chỗ nương của tâm thức là bộ óc và hệ thần kinh nhưng mang tính tương đối và vẫn được xem là những bí ẩn chưa đuợc khám phá tường tận. Thí dụ như người ta khám phá sự nghiện ngập hay sư ưa thích ăn uống khiến một người mang chứng béo phì do một loại tế bào DNA thay vì từ hệ thần kinh. Đây là vấn đề mà Phật học không đào sâu (….)
NHÓM SINH LỰC (JĪVITA RŪPA) Nhóm
nầy chỉ có một sắc là sắc mạng quyền .
Sắc mạng quyền
(jīvitindriya rūpa) là thành phần vật chất đóng vai trò
duy trừ mạng sống hay sinh lực. Theo Thắng Pháp thì của
hai tâm và thân đều cần sinh lực để tồn tại dù là sự tồn
tại ngắn ngủi
trong một sát na. Loại sắc nầy có thể nhận biết
khi thân thể không còn sắc mạng quyền thì gọi là một thi
thể dẫn tới sự sình trương, phân huỷ nếu không được bảo
quản. Y khoa ngày nay cho biết một
số dược liệu từ thảo mộc hay chất khoáng có thể khiến
gia tăng hay giảm thiểu sinh lực. Theo Thắng Pháp thì
chính sắc pháp nầy duy trì sự tồn tại gọi là “sự sống”
NHÓM DƯỠNG TỐ (ĀHĀRA RŪPA)
Nhóm nầy chỉ có
một sắc là sắc dinh dưỡng.
Sắc dinh dưỡng (āhāra rūpa) bao gồm tất cả dinh
dưỡng được gọi là
oja (như chữ nutrition trong Anh ngữ) nuôi cơ
thể. Đây là thành phần tinh tuý trong thực phẩm. Không
phải tất cả thức ăn đều có dinh dưỡng nhưng đa số dinh
dưỡng đưa vào cơ thể qua thức ăn. Một số dinh dưỡng hấp
thụ qua hình thức khác như ánh sáng mặt trời cung ứng
vitamin D cho cơ thể. Ngày nay dược phẩm cũng đóng vai
trò quan trọng để cung ứng sinh tố và chất khoáng cho
thân. Dinh dưỡng là một lãnh vực
lớn trong y khoa ngày nay. Càng ngày càng có nhiều khám
phá mới trong lãnh vực nầy. Ở đây chỉ đề cập một cách
tổng quát. (còn tiếp)
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |