|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 03 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 407. LY THAM THÌ GIẢI THOÁT - Kinh Câu hỏi của Sakka (Sakkapañhasuttaṃ). ******
Với đa số người tu Phật ngày
nay, sự thành tựu quả vị giải
thoát chờ tới kiếp sau. Cái nhìn
nầy rất khác với thời Phật trụ
thế. Đức Phật dạy rõ chính ái
chấp đối với những gì được quan
niệm là vừa lòng, đẹp ý, hấp dẫn
là nguyên nhân chính dẫn tới
trầm luân sanh tử. Sự huân tu
khả năng buông xả là phương cách
thoát khổ. Chính ở đây sự lãnh
hội về vô thường, khổ não, vô
ngã, bất tịnh trở mang giá trị
to lớn đối với hành giả.
KINH VĂN
118.
ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe
viharati gijjhakūṭe pabbate.
atha kho sakko devānamindo yena
bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.
ekamantaṃ ṭhito kho sakko
devānamindo bhagavantaṃ
etadavoca — “ko nu kho, bhante,
hetu, ko paccayo yena midhekacce
sattā diṭṭheva dhamme no
parinibbāyanti? ko pana, bhante,
hetu, ko paccayo yena midhekacce
sattā diṭṭheva dhamme
parinibbāyantī”ti?
“santi kho, devānaminda,
cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati. tassa taṃ abhinandato
abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato
tannissitaṃ viññāṇaṃ hoti
tadupādānaṃ. saupādāno,
devānaminda, bhikkhu no
parinibbāyati ... pe ....
“santi kho, devānaminda,
jivhāviññeyyā rasā ... pe ...
santi kho, devānaminda,
manoviññeyyā dhammā, iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
abhinandati abhivadati ajjhosāya
tiṭṭhati. tassa taṃ abhinandato
abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato
tannissitaṃ viññāṇaṃ hoti
tadupādānaṃ. saupādāno,
devānaminda, bhikkhu no
parinibbāyati. ayaṃ kho,
devānaminda, hetu, ayaṃ paccayo
yena midhekacce sattā diṭṭheva
dhamme no parinibbāyanti.
“santi ca kho, devānaminda,
cakkhuviññeyyā rūpā, iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati. tassa taṃ
anabhinandato anabhivadato
anajjhosāya tiṭṭhato na
tannissitaṃ viññāṇaṃ hoti, na
tadupādānaṃ. anupādāno,
devānaminda, bhikkhu
parinibbāyati ... pe ....
“santi kho, devānaminda,
jivhāviññeyyā rasā ... pe ...
santi kho, devānaminda,
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā
manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā
rajanīyā. tañce bhikkhu
nābhinandati nābhivadati
nājjhosāya tiṭṭhati. tassa taṃ
anabhinandato anabhivadato
anajjhosāya tiṭṭhato na
tannissitaṃ viññāṇaṃ hoti na
tadupādānaṃ. anupādāno,
devānaminda, bhikkhu
parinibbāyati. ayaṃ kho,
devānaminda, hetu, ayaṃ paccayo
yena midhekacce sattā diṭṭheva
dhamme parinibbāyantī”ti.
pañcamaṃ..
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại
thành Rājagaha, trên đỉnh Linh
Thứu. Lúc bấy giờ Thiên chủ
Sakka đi đến Đức Thế Tôn, đảnh
lễ Ngài, đứng sang một bên và
bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nguyên nhân và lý
do gì khiến cho một số chúng
sinh ở đây không chứng đạt
Niết-bàn ngay trong đời sống
này? Và nguyên nhân và lý do gì
khiến một số chúng sinh ở đây
chứng đạt Niết-bàn ngay trong
đời sống này?”
“Này Thiên chủ, có những sắc
được mắt nhận biết là khả ái, dễ
thương, hấp dẫn, vừa lòng, kích
thích giác quan, gây mê hoặc.
Nếu một vị tỳ khưu hoan hỷ trong
những sắc ấy, đón nhận và chấp
thủ chúng, thì tâm của vị ấy sẽ
tùy thuộc vào chúng và bám víu
vào chúng. Một vị tỳ khưu có sự
bám víu như vậy sẽ không đạt
được Niết-bàn.
Cũng vậy, này Thiên chủ, có
những âm thanh được tai nhận
biết … có những cảnh pháp do ý
nhận biết là khả ái, dễ thương,
hấp dẫn, vừa lòng, kích thích
giác quan, gây mê hoặc. Nếu một
vị tỳ khưu hoan hỷ trong những
sắc ấy, đón nhận và chấp thủ
chúng, thì tâm của vị ấy sẽ tùy
thuộc vào chúng và bám víu vào
chúng. Một vị tỳ khưu có sự bám
víu như vậy sẽ không đạt được
Niết-bàn.
Đây chính là nguyên nhân và lý
do, này Thiên chủ, khiến cho một
số chúng sinh ở đây không chứng
đạt Niết-bàn ngay trong đời sống
này
“Này Thiên chủ, có những sắc
được mắt nhận biết là khả ái, dễ
thương, hấp dẫn, vừa lòng, kích
thích giác quan, gây mê hoặc.
Nếu một vị tỳ khưu không hoan hỷ
trong những sắc ấy, không đón
nhận và không chấp thủ chúng,
thì tâm của vị ấy sẽ không tùy
thuộc vào chúng và không bám víu
vào chúng. Một vị tỳ khưu không
có sự bám víu như vậy sẽ chứng
đạt được Niết bàn.
Cũng vậy, này Thiên chủ, có
những âm thanh được tai nhận
biết … có những cảnh pháp do ý
nhận biết là khả ái, dễ thương,
hấp dẫn, vừa lòng, kích thích
giác quan, gây mê hoặc. Nếu một
vị tỳ khưu không hoan hỷ trong
những sắc ấy, không đón nhận và
không chấp thủ chúng, thì tâm
của vị ấy sẽ không tùy thuộc vào
chúng và không bám víu vào
chúng. Một vị tỳ khưu không có
sự bám víu như vậy sẽ chứng đạt
được Niết bàn.
Đây chính là nguyên nhân và lý
do, này Thiên chủ, khiến cho một
số chúng sinh ở đây chứng đạt
Niết bàn ngay trong đời sống này
CHÚ THÍCH
Thiên chủ Sakka là vị vua trời
đứng đầu cõi Trời Tāvatiṃsa –
Tam Thập Tam Thiên hay Đao Lợi.
Sakka không chỉ là một vị vua
trời hùng mạnh, mà còn là biểu
tượng của thiện pháp, đạo đức,
và lòng kính trọng
Phật-Pháp-Tăng. Ngài từng là một
người trong cõi nhân loại có tên
là Magha, sống một đời đầy bố
thí, phục vụ cộng ích, giữ ngũ
giới, và khuyến khích người khác
sống đạo đức. Sau khi mạng
chung, ông tái sinh lên cõi trời
Tāvatiṃsa và trở thành Sakka.
Sakka nhiều lần hiện thân để hộ
trì Đức Phật và Tăng đoàn. Ngài
từng đến đảnh lễ, nghe pháp, và
bảo vệ chư Tăng trong nhiều hoàn
cảnh. Trong Sakkapañha Sutta
(Trường Bộ Kinh 21 – Kinh Vấn
Đạo của Thiên chủ), Sakka đích
thân đến hỏi Đức Phật 42 câu hỏi
về khổ đau, nghiệp, giải thoát –
thể hiện tâm cầu pháp chân
thành.
Khác với quan niệm thông thường,
sự thành tựu cứu cánh giải thoát
theo kinh điển có thể đạt đến
trong kiếp hiện tại hơn là “mơ
màng kiếp sau”
Yếu tố then chốt quyết định sự
sanh tử hay giải thoát nằm ở
nịch ái và chấp thủ. Còn ái – dù
là dục ái, sắc ái, hay vô sắc ái
– là còn luân hồi trong ba cõi.
Chấp thủ là hệ quả tiếp nối tự
nhiên của của nịch ái.
Ngay sau khi thành đạo, Đức Phật
đã tự thốt lên kệ ngôn mà qua đó
Ngài khẳng định đã tìm là nguyên
nhân cội rễ của trầm luân sanh
tử chính là ái dục.
SỚ GIẢI
118-119. pañcame diṭṭheva
dhammeti imasmiṃyeva attabhāve.
parinibbāyantīti
kilesaparinibbānena
parinibbāyanti. tannissitaṃ
viññāṇaṃ hotīti taṇhānissitaṃ
kammaviññāṇaṃ hoti.
tadupādānanti taṃgahaṇaṃ,
taṇhāgahaṇena sahagataṃ viññāṇaṃ
hotīti attho. chaṭṭhaṃ
uttānameva.
118–119.
"Diṭṭheva dhammeti – pháp nhãn
tiền", tức ngay trong đời sống
hiện tại, trong chính thân này
(imasmiṃyeva attabhāve).
"Parinibbāyantīti -chứng đạt
Niết-bàn", ở đây là chứng đạt
Niết-bàn qua sự diệt tận của
phiền não (kilesaparinibbāna),
chứ không phải là tịch tịnh của
ngũ uẩn.
"Tannissitaṃ viññāṇaṃ hoti -
thức tuỳ thuộc", tức là nghiệp
thức (kammaviññāṇa) nương tựa
vào ái (taṇhā) mà phát sinh.
"Tadupādānaṃ - sự chấp thủ vào
cái đó", tức là sự nắm giữ lấy
cái ấy (ở đây là cảnh trần), và
điều này được hiểu là thức khởi
lên cùng với sự nắm giữ do tham
ái (taṇhā-gahaṇa-sahagataṃ
viññāṇaṃ hoti).
"Chaṭṭhaṃ uttānameva":
tức là kinh thứ sáu (bài kinh
tiếp theo kinh nầy) thì quá rõ
ràng rồi, không cần giải thích
thêm.
Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
118. V. Sakka (S.iv,101)
1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại
Gijjhakùta (Linh Thứu).
2) Rồi Thiên chủ Sakka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
3) Ðứng một bên, Thiên chủ Sakka bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số
loài hữu tình ngay trong hiện tại không nhập Niết-bàn?
Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, ở đây một số loài
hữu tình ngay trong hiện tại nhập được Niết-bàn?
4) -- Này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, tham luyến an
trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Vì có
chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.
5-8) Này Thiên chủ, có những tiếng do tai nhận thức...
có những hương do mũi nhận thức... có những vị do lưỡi
nhận thức... có những xúc do thân cảm giác...
9) Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu
Tỷ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an trú.
Do Tỷ-kheo ấy hoan hỷ pháp ấy, tán dương, tham luyến an
trú, y cứ vào đấy, thức khởi lên chấp thủ cái ấy. Do có
chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy không nhập Niết-bàn.
10) Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, ở đây một
số loài hữu tình, ngay trong hiện tại không nhập
Niết-bàn.
11-16) Và này Thiên chủ, có những sắc do mắt nhận thức
khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương,
không tham luyến an trú; thời do vị ấy không hoan hỷ sắc
ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ
cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Do không
chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo nhập Niết-bàn. Có những
tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận
thức... Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do
thân cảm giác...
17) Này Thiên chủ, có những pháp do ý nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu
Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không
tham luyến an trú; thời do Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ pháp
ấy, không tán dương, không tham luyến an trú, không y cứ
vào cái ấy, thức khởi lên không chấp thủ cái ấy. Không
chấp thủ, này Thiên chủ, Tỷ-kheo ấy nhập Niết-bàn.
18) Này Thiên chủ, đây là nhân, đây là duyên, do vậy ở
đây một số loài hữu tình ngay trong hiện tại nhập
Niết-bàn.
119. IV. Pancasikha (S.iv,103)
1) Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi
Gijjhakùta (Linh Thứu).
2) Rồi Pancasikha, con vị vua Gandhabba, đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một bên.
3) Ðứng một bên, Pancasikha, con Gandhabba, bạch Thế
Tôn: "...(giống như kinh trước, câu hỏi và câu đáp giống
như kinh trước)". |