|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 06 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 410. PHÁ VỠ TOÀN BỘ CHẤP THỦ - Kinh Huấn Thị Rāhula (Rāhulovādasuttaṃ).
KINH VĂN
1. Ekaṃ samayaṃ bhagavā
sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme.
2. Atha kho bhagavato
rahogatassa paṭisallīnassa evaṃ
cetaso parivitakko udapādi:
"Paripakkā kho rāhulassa vimuttiparipācaniyā dhammā;
yaṃnūnāhaṃ rāhulaṃ uttariṃ
āsavānaṃ khaye vineyyan"ti.
3. Atha kho bhagavā
pubbaṇhasamayaṃ nivāsetvā
pattacīvaramādāya sāvatthiyaṃ
piṇḍāya caritvā pacchābhattaṃ
piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṃ
rāhulaṃ āmantesi:
"Gaṇhāhi, rāhula, nisīdanaṃ. Yena andhavanaṃ
tenupasaṅkamissāma
divāvihārāyā"ti.
4. "Evaṃ, bhante"ti kho
āyasmā rāhulo bhagavato
paṭissutvā nisīdanaṃ ādāya
bhagavantaṃ piṭṭhito piṭṭhito
anubandhi.
5. Tena kho pana
samayena anekāni devatāsahassāni
bhagavantaṃ anubandhāni honti:
"Ajja bhagavā āyasmantaṃ rāhulaṃ uttariṃ āsavānaṃ khaye
vinessatī"ti.
6. Atha kho bhagavā
andhavanaṃ ajjhogāhetvā
aññatarasmiṃ rukkhamūle paññatte
āsane nisīdi.
Āyasmāpi kho rāhulo bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ
nisīdi.
7. Ekamantaṃ nisinnaṃ
kho āyasmantaṃ rāhulaṃ bhagavā
etadavoca:
8. "Taṃ kiṃ maññasi,
rāhula, cakkhu niccaṃ vā aniccaṃ
vā"ti?
"Aniccaṃ, bhante".
“rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
Sắc là thường hay vô
thường?...
“cakkhuviññāṇaṃ niccaṃ vā aniccaṃ vā”ti?
Nhãn thức là thường hay vô thường?...
“cakkhusamphasso nicco vā anicco vā”ti?
Nhãn xúc là thường hay vô thường?...
“yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṃ,
saññāgataṃ, saṅkhāragataṃ,
viññāṇagataṃ, tampi niccaṃ vā
aniccaṃ vā”ti?
Thọ, tưởng, hành, thức sanh khởi duyên nhãn xúc
là
thường hay vô thường?
“aniccaṃ, bhante”.
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
“dukkhaṃ, bhante”.
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng
nếu quan niệm cái ấy: "Cái này
là của tôi. Cái này là tôi. Cái
này là tự ngã của tôi"?
“no hetaṃ, bhante”
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
9. (Tương tự như vậy, Thế Tôn hỏi về: sắc, nhãn thức,
nhãn xúc, các thọ – tưởng – hành
– thức do nhãn xúc sanh khởi,
tai, âm thanh, nhĩ thức, nhĩ
xúc…)
10. …jivhā, rasā,
jivhāviññāṇa, jivhāsamphassa,
vedanāgataṃ, saññāgataṃ,
saṅkhāragataṃ, viññāṇagataṃ…
11. …mano, dhammā,
manoviññāṇa, manosamphassa,
yampidaṃ manosamphassapaccayā
uppajjati vedanāgataṃ saññāgataṃ
saṅkhāragataṃ viññāṇagataṃ…
“aniccaṃ, bhante”.
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vā taṃ sukhaṃ vā”ti?
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
“dukkhaṃ, bhante”.
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
“yaṃ panāniccaṃ dukkhaṃ vipariṇāmadhammaṃ, kallaṃ nu taṃ
samanupassituṃ — ‘etaṃ mama,
esohamasmi, eso me attā’”ti?
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại; có hợp lý chăng
nếu quan niệm cái ấy: "Cái này
là của tôi. Cái này là tôi. Cái
này là tự ngã của tôi"?
“no hetaṃ, bhante”
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
12. Evaṃ passaṃ, rāhula,
sutavā ariyasāvako… nibbindati…
virajjati… vimuccati…
13. Nibbindaṃ virajjati,
virāgā vimuccati, vimuttasmiṃ
vimuttamiti ñāṇaṃ hoti…
14. ‘Khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti pajānāti.
15. Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā rāhulo bhagavato
bhāsitaṃ abhinandi.
16. Imasmiñca pana
veyyākaraṇasmiṃ bhaññamāne
āyasmato rāhulassa anupādāya
āsavehi cittaṃ vimucci.
17. Anekānañca
devatāsahassānaṃ virajaṃ
vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi:
“Yaṃ kiñci samudayadhammaṃ,
sabbaṃ taṃ nirodhadhamman”ti.
CHÚ THÍCH
Các pháp dẫn đến sự thành tựu giải thoát (Vimuttiparipācaniyā Dhammā) theo
Sớ giải
bao gồm:
I. Mười lăm pháp thanh lọc năm căn (indriya-visuddhi)
Đối với mỗi căn (tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ), có ba yếu tố hỗ trợ:
a)
Tránh xa người thiếu căn ấy.
b)
Gần gũi người đầy đủ căn ấy.
c)
Quán xét các bài kinh khơi dậy căn ấy.
→ 5 căn × 3 cách = 15 pháp giúp thanh lọc năm quyền (indriya).
II. Mười lăm pháp mở rộng gồm:
5 căn (một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng).
5 tuệ tri hướng đến đột phá (nibbhedhabhāgiyā saññā):
a)
Tri giác về vô thường (aniccasaññā)
b)
Tri giác về khổ trong vô thường (anicce
dukkhasaññā)
c)
Tri giác về vô ngã trong khổ (dukkhe
anattasaññā)
d)
Tri giác về sự từ bỏ (pahānasaññā)
e)
Tri giác về ly tham (virāgasaññā)
5 pháp được giảng cho Tôn giả Meghiya (Udāna 36):
a)
Thiện hữu tri thức (kalyāṇamittatā)
b)
Trì giới nghiêm túc (sīla)
c)
Đàm thoại phù hợp với Pháp
(kalyāṇakathā)
d)
Tinh tấn không biếng nhác
(āraddhavīriya)
e)
Trí tuệ dẫn đường (paññā)
Tổng cộng: 30 pháp có thể được gọi là “Vimuttiparipācaniyā”Những pháp này
góp phần hỗ trợ người thực hành
tiến đến sự chín muồi của giải
thoát, tức là thành tựu đạo quả
rốt ráo.
Những chư thiên này đã phát nguyện (chứng đạt giác ngộ) cùng với Rāhula
khi Rāhula phát nguyện (trở
thành con trai của một vị Phật)
dưới chân Đức Phật Padumuttara.
Từ đó, họ đã được tái sanh vào
nhiều cõi trời khác nhau, nhưng
vào ngày này, tất cả đều tụ hội
về rừng Andhara.
Trong bài kinh này, “Pháp nhãn” (Dhammacakkhu) ám chỉ bốn đạo và bốn quả.
Có những chư thiên chứng được
nhập lưu (sotāpanna), một số
chứng nhất lai (sakadāgāmī), số
khác đạt bất lai (anāgāmī), và
cũng có những vị đạt A-la-hán
(arahant). Số lượng chư thiên ấy
là vô số.
SỚ GIẢI
Chú giải 121. Kinh số 8 (aṭṭhame)
"Vimuttiparipācaniyā" có nghĩa
là: "các pháp làm cho thành
thục sự giải thoát".
"Tránh xa người không có đức tin, gần gũi và thân cận người có đức tin,
suy xét các bài kinh khiến sanh
tín tâm — nhờ ba cách này mà tín
căn được thanh tịnh.
Ngoài ra, còn có 15 pháp khác cũng được
gọi là "vimuttiparipācaniyā
dhammā" (pháp làm cho thành thục
sự giải thoát):
1.
Tri kiến về vô thường (aniccasaññā)
2.
Tri kiến về khổ trong vô thường
3.
Tri kiến về vô ngã trong khổ
4.
Tri kiến về sự từ bỏ (pahānasaññā)
5.
Tri kiến về ly tham (virāgasaññā)
Còn về thời điểm Thế Tôn khởi tâm nghĩ đến việc giáo giới Rāhula là khi
nào?
Về cụm từ “nhiều ngàn chư thiên” (anekāni devatāsahassāni):
Đó là những vị chư thiên đã cùng phát nguyện với Tôn giả Rāhula dưới chân
Đức Phật Padumuttara trong quá
khứ, khi Rāhula còn là một vị
long vương tên Pālita.
Nhưng ngay trong ngày hôm đó, tất cả họ tụ hội tại rừng của những người mù
— vì vậy nói rằng: “nhiều ngàn
chư thiên”.
“Pháp nhãn” (Dhammacakkhu):
Trong bài kinh này, “Dhammacakkhu” ám chỉ cả bốn đạo và bốn quả. Trong số
các chư thiên đó:
Và số lượng chư thiên chứng ngộ ấy không thể tính đếm.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
121. VIII. Ràhula (S.iv,
105)
1) Một thời Thế Tôn ở trú ở
Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông
Anàthapindika.
2) Rồi Thế Tôn trong khi độc cư
Thiền tịnh, các tư niệm sau đây
được khởi lên: "Ðã thuần thục là
các pháp đưa đến giải thoát được
chín muồi cho Ràhula. Vậy Ta hãy
giảng dạy cho Ràhula những lời
dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận
các lậu hoặc".
3) Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng,
đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi
để khất thực, khất thực xong,
sau buổi ăn, trên con đường đi
khất thực trở về, gọi Tôn giả
Ràhula:
-- Này Ràhula, hãy cầm tọa cụ đi
đến rừng Andha để nghỉ trưa.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ràhula vâng đáp Thế Tôn,
cầm lấy tọa cụ, và đi sau lưng
Thế Tôn.
4) Lúc bấy giờ, rất nhiều ngàn
Thiên nhân đi theo Thế Tôn và
nghĩ rằng: "Hôm nay, Thế Tôn sẽ
giảng dạy cho Ràhula những lời
dạy cuối cùng đưa đến đoạn tận
các lậu hoặc".
5) Rồi Thế Tôn đi sâu vào rừng
Andha và ngồi xuống trên chỗ
ngồi đã soạn sẵn dưới gốc cây.
Rồi Tôn giả Ràhula, sau khi đảnh
lễ Thế Tôn liền ngồi xuống một
bên. Thế Tôn nói với Tôn giả
Ràhula đang ngồi xuống một bên:
6) -- Ông nghĩ thế nào, này
Ràhula, mắt là thường hay vô
thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay
lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu
sự biến hoại, có hợp lý chăng
nếu chánh quán cái ấy: "Cái này
là của tôi. Cái này là tôi. Cái
này là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Sắc là thường hay vô
thường?...
Nhãn thức là thường hay vô
thường?...
Nhãn xúc là thường hay vô
thường?...
Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm
thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất
lạc thọ; cảm thọ ấy là thường
hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay
lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu
sự biến hoại; có hợp lý chăng
nếu quán cái ấy: "Cái này là của
tôi. Cái này là tôi. Cái này là
tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
7-8) -- Tai... Mũi...
9-10) Lưỡi... Thân...
11) Ý là thường hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay
lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu
sự biến hoại; có hợp lý chăng
nếu quán cái ấy là: "Cái này là
của tôi. Cái này là tôi. Cái này
là tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Các pháp là thường hay vô
thường?...
Ý thức là thường hay vô
thường?...
Ý xúc là thường hay vô
thường?...
Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ
gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất
lạc thọ; cảm thọ ấy là thường
hay vô thường?
-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường là khổ hay
lạc?
-- Là khổ, bạch Thế Tôn.
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu
sự biến hoại; có hợp lý chăng
nếu quán cái ấy: "Cái này là của
tôi. Cái này là tôi. Cái này là
tự ngã của tôi"?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
12) -- Thấy vậy, này Ràhula, vị
Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối
với mắt, nhàm chán đối với các
sắc, nhàm chán đối với nhãn
thức, nhàm chán đối với nhãn
xúc. Phàm duyên nhãn xúc này
khởi lên cảm thọ gì, tưởng gì,
hành gì, thức gì; nhàm chán đối
với pháp ấy... nhàm chán đối với
tai... nhàm chán đối với mũi...
nhàm chán đối với lưỡi... nhàm
chán đối với thân... nhàm chán
đối với ý, nhàm chán đối với
pháp, nhàm chán đối với ý thức,
nhàm chán đối với ý xúc. Do
duyên ý xúc này khởi lên cảm thọ
gì, tưởng gì, hành gì, thức gì,
nhàm chán đối với pháp ấy. Do
nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly
tham, vị ấy được giải thoát.
Trong sự giải thoát, khởi lên
trí hiểu biết: "Ta đã được giải
thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
13) Thế Tôn thuyết như vậy. Tôn
giả Ràhula hoan hỷ, tín thọ lời
Thế Tôn dạy. Trong khi lời
thuyết giảng này được nói lên,
tâm Tôn giả Ràhula được giải
thoát khỏi các lậu hoặc, không
có chấp thủ. Và hàng nhiều ngàn
chư Thiên khởi lên pháp nhãn ly
trần vô cấu: "Phàm các pháp gì
được sanh khởi, tất cả đều bị
đoạn diệt".
-ooOoo- |