|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 07 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
122.
Những Pháp Trói Buộc
(Giống
như
kinh 109, nhưng được
trình bày qua sáu căn ngoại
trần — tức là sáu đối tượng
bên ngoài: sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp.)
Đoạn này nhấn mạnh
rằng không chỉ qua sáu căn
nội (mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý), mà qua sáu căn
ngoại trần — nếu không tỉnh
thức — người ta có thể bị
ràng buộc, dính mắc vào vòng
luân hồi.
123.
Những Pháp Có Thể Chấp Thủ
(Giống
như kinh 110, nhưng cũng
được trình bày theo sáu căn
ngoại trần.) Tương tự như
trên, các đối tượng của sáu
căn trở thành cái để chấp
thủ nếu tâm không có chánh
niệm và trí tuệ.
III.
GIA CHỦ
124.
Tại Vesālī
1. Một
thuở, Đức Thế Tôn ngự tại
Vesālī trong Đại Lâm, tại
giảng đường mái nhọn. Khi
ấy, cư sĩ Ugga của Vesālī
đến gần Đức Thế Tôn... và
thưa với Ngài... (Câu hỏi và
câu trả lời hoàn toàn giống
như kinh 118.)
125.
Trong Xứ Vajji
1. Một
thuở, Đức Thế Tôn ngự tại xứ
Vajji, tại Hatthigāma. Khi
ấy, cư sĩ Ugga của
Hatthigāma đến gần Đức Thế
Tôn… và thưa với Ngài...
(Nội dung giống như kinh
118.)
126.
Tại Nāḷandā 1. Một thuở, Đức Thế Tôn ngự tại Nāḷandā, trong vườn xoài của cư sĩ Pāvārika. Khi ấy, cư sĩ Upāli đến gần Đức Thế Tôn… và thưa với Ngài... (Nội dung giống như kinh 118.) Bài 411. HOÁ GIẢI DỤC VỌNG - Kinh Bhāradvāja (Bhāradvājasuttaṃ).******
KINH VĂN
127. ekaṃ samayaṃ āyasmā
piṇḍolabhāradvājo kosambiyaṃ
viharati ghositārāme. atha kho
rājā udeno yenāyasmā
piṇḍolabhāradvājo tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā āyasmatā
piṇḍolabhāradvājena saddhiṃ
sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho
rājā udeno āyasmantaṃ
piṇḍolabhāradvājaṃ etadavoca —
“ko nu kho, bho bhāradvāja, hetu
ko paccayo yenime daharā bhikkhū
susū {susu (sī. ka.)} kāḷakesā
bhadrena yobbanena samannāgatā
paṭhamena vayasā anikīḷitāvino
kāmesu yāvajīvaṃ paripuṇṇaṃ
parisuddhaṃ brahmacariyaṃ
caranti, addhānañca āpādentī”ti?
“vuttaṃ kho etaṃ, mahārāja, tena
bhagavatā jānatā passatā arahatā
sammāsambuddhena — ‘etha tumhe,
bhikkhave, mātumattīsu
mātucittaṃ upaṭṭhapetha,
bhaginimattīsu bhaginicittaṃ
upaṭṭhapetha, dhītumattīsu
dhītucittaṃ upaṭṭhapethā’ti.
ayaṃ kho, mahārāja, hetu, ayaṃ
paccayo yenime daharā bhikkhū
susū kāḷakesā bhadrena yobbanena
samannāgatā paṭhamena vayasā
anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṃ
paripuṇṇaṃ parisuddhaṃ
brahmacariyaṃ caranti,
addhānañca āpādentī”ti.
“lolaṃ {loḷaṃ (syā.
kaṃ.)} kho, bho bhāradvāja,
cittaṃ. appekadā mātumattīsupi
lobhadhammā uppajjanti,
bhaginimattīsupi lobhadhammā
uppajjanti, dhītumattīsupi
lobhadhammā uppajjanti. atthi nu
kho, bho bhāradvāja, añño ca
hetu, añño ca paccayo yenime
daharā bhikkhū susū kāḷakesā ...
pe ... addhānañca āpādentī”ti?
“vuttaṃ kho etaṃ, mahārāja, tena
bhagavatā jānatā passatā arahatā
sammāsambuddhena — ‘etha tumhe,
bhikkhave, imameva kāyaṃ uddhaṃ
pādatalā adho kesamatthakā
tacapariyantaṃ pūraṃ
nānappakārassa asucino
paccavekkhatha — atthi imasmiṃ
kāye kesā lomā nakhā dantā taco
maṃsaṃ nhāru {nahāru (sī. syā.
kaṃ. pī.)} aṭṭhi aṭṭhimiñjaṃ
{aṭṭhimiñjā (sī.)} vakkaṃ
hadayaṃ yakanaṃ kilomakaṃ
pihakaṃ papphāsaṃ antaṃ
antaguṇaṃ udariyaṃ karīsaṃ
pittaṃ semhaṃ pubbo lohitaṃ sedo
medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā
lasikā muttan’ti. ayampi kho,
mahārāja, hetu, ayaṃ paccayo
yenime daharā bhikkhū susū
kāḷakesā ... pe ... addhānañca
āpādentī”ti. “ye te, bho
bhāradvāja, bhikkhū bhāvitakāyā
bhāvitasīlā bhāvitacittā
bhāvitapaññā, tesaṃ taṃ sukaraṃ
hoti. ye ca kho te, bho
bhāradvāja, bhikkhū abhāvitakāyā
abhāvitasīlā abhāvitacittā
abhāvitapaññā, tesaṃ taṃ
dukkaraṃ hoti. appekadā, bho
bhāradvāja, asubhato manasi
karissāmīti {manasi karissāmāti
(sī. syā. kaṃ. pī.)} subhatova
{subhato vā (sī.), subhato ca
(syā. kaṃ.)} āgacchati. atthi nu
kho, bho bhāradvāja, añño ca kho
hetu añño ca paccayo yenime
daharā bhikkhū susū kāḷakesā ...
pe ... addhānañca āpādentī”ti?
“vuttaṃ kho etaṃ,
mahārāja, tena bhagavatā jānatā
passatā arahatā sammāsambuddhena
— ‘etha tumhe, bhikkhave,
indriyesu guttadvārā viharatha.
cakkhunā rūpaṃ disvā mā
nimittaggāhino ahuvattha,
mānubyañjanaggāhino.
yatvādhikaraṇamenaṃ
cakkhundriyaṃ asaṃvutaṃ
viharantaṃ abhijjhādomanassā
pāpakā akusalā dhammā
anvāssaveyyuṃ, tassa saṃvarāya
paṭipajjatha. rakkhatha
cakkhundriyaṃ; cakkhundriye
saṃvaraṃ āpajjatha. sotena
saddaṃ sutvā ... pe ... ghānena
gandhaṃ ghāyitvā... jivhāya
rasaṃ sāyitvā... kāyena
phoṭṭhabbaṃ phusitvā... manasā
dhammaṃ viññāya mā
nimittaggāhino ahuvattha,
mānubyañjanaggāhino.
yatvādhikaraṇamenaṃ manindriyaṃ
asaṃvutaṃ viharantaṃ
abhijjhādomanassā pāpakā akusalā
dhammā anvāssaveyyuṃ, tassa
saṃvarāya paṭipajjatha.
rakkhatha manindriyaṃ;
manindriye saṃvaraṃ
āpajjathā’ti. ayampi kho,
mahārāja, hetu ayaṃ paccayo
yenime daharā bhikkhū susū
kāḷakesā bhadrena yobbanena
samannāgatā paṭhamena vayasā
anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṃ
paripuṇṇaṃ parisuddhaṃ
brahmacariyaṃ caranti,
addhānañca āpādentī”ti.
“acchariyaṃ, bho
bhāradvāja; abbhutaṃ, bho
bhāradvāja! yāva subhāsitaṃ
cidaṃ {yāva subhāsitamidaṃ
(sī.)}, bho bhāradvāja, tena
bhagavatā jānatā passatā arahatā
sammāsambuddhena. esova kho, bho
bhāradvāja, hetu, esa paccayo
yenime daharā bhikkhū susū
kāḷakesā bhadrena yobbanena
samannāgatā paṭhamena vayasā
anikīḷitāvino kāmesu yāvajīvaṃ
paripuṇṇaṃ parisuddhaṃ
brahmacariyaṃ caranti,
addhānañca āpādentīti. ahampi
kho, bho {ahampi bho (sī. pī.)}
bhāradvāja, yasmiṃ samaye
arakkhiteneva kāyena,
arakkhitāya vācāya, arakkhitena
cittena, anupaṭṭhitāya satiyā,
asaṃvutehi indriyehi antepuraṃ
pavisāmi, ativiya maṃ tasmiṃ
samaye lobhadhammā parisahanti.
yasmiñca khvāhaṃ, bho
bhāradvāja, samaye rakkhiteneva
kāyena, rakkhitāya vācāya,
rakkhitena cittena, upaṭṭhitāya
satiyā, saṃvutehi indriyehi
antepuraṃ pavisāmi, na maṃ tathā
tasmiṃ samaye lobhadhammā
parisahanti. abhikkantaṃ, bho
bhāradvāja; abhikkantaṃ, bho
bhāradvāja! seyyathāpi, bho
bhāradvāja, nikkujjitaṃ
{nikujjitaṃ (pī.)} vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā
vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā
telapajjotaṃ dhāreyya,
cakkhumanto rūpāni dakkhantīti;
evamevaṃ bhotā bhāradvājena
anekapariyāyena dhammo pakāsito.
esāhaṃ, bho bhāradvāja, taṃ
bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi,
dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
upāsakaṃ maṃ bhavaṃ bhāradvājo
dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ
saraṇaṃ gatan”ti. catutthaṃ.
1.
Một thuở, Tôn giả Piṇḍola
Bhāradvāja đang trú tại Kosambī,
trong vườn Ghosita. Khi ấy, vua
Udena đến gặp Tôn giả Piṇḍola
Bhāradvāja, chào hỏi thân mật.
Sau khi chào hỏi và nói chuyện
xã giao xong, vua ngồi xuống một
bên và thưa:
2.
“Tôn giả Bhāradvāja, do nhân gì,
duyên gì mà các vị Tỷ-kheo trẻ
tuổi, tóc còn đen, đang ở thời
thanh xuân, chưa từng đắm mình
trong dục lạc, lại có thể sống
phạm hạnh trọn vẹn và trong sạch
suốt đời mà không gián đoạn như
vậy?”
3.
“Tâu đại vương, điều này đã được
đức Thế Tôn – bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác, bậc biết và
thấy – dạy rằng: ‘Này các Tỳ
khưu, đối với phụ nữ lớn tuổi đủ
làm mẹ mình, hãy khởi tưởng là
mẹ; đối với phụ nữ ngang tuổi
mình, hãy khởi tưởng là chị hoặc
em gái; đối với phụ nữ trẻ hơn
đủ làm con gái mình, hãy khởi
tưởng là con gái.’ Đây là một
nhân và duyên, tâu đại vương,
khiến các vị Tỳ khưu trẻ tuổi …
sống phạm hạnh trọn đời và không
gián đoạn.”
4.
“Tâm thật phóng túng, Tôn giả
Bhāradvāja. Đôi khi dục tưởng
vẫn khởi lên đối với cả phụ nữ
lớn tuổi như mẹ, hoặc ngang tuổi
chị em, hoặc trẻ như con gái. Có
nhân duyên nào khác khiến các Tỳ
khưu trẻ ấy … sống phạm hạnh
trọn đời và không gián đoạn
không?”
5.
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã
dạy rằng: ‘Này các Tỳ khưu, hãy
quán xét thân này từ dưới lên:
từ bàn chân đến đỉnh đầu, được
bọc trong lớp da, đầy các vật
bất tịnh như: tóc đầu, lông
thân, móng tay, răng, da, thịt,
gân, xương, tủy, thận, tim, gan,
màng phổi, lá lách, phổi, ruột,
màng treo ruột, đồ trong dạ dày,
phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi,
mỡ, nước mắt, dầu mỡ, nước
miếng, nước mũi, chất nhờn trong
khớp, và nước tiểu.’ Đây cũng là
một nhân và duyên, tâu đại
vương, khiến các vị Tỳ khưu trẻ
ấy … sống phạm hạnh trọn đời và
không gián đoạn.”
6.
“Điều này dễ đối với những Tỳ
khưu có thân phát triển, giới
phát triển, tâm phát triển, và
trí tuệ phát triển. Nhưng thật
khó đối với những ai chưa phát
triển đầy đủ thân, giới, tâm và
tuệ. Đôi khi, tuy khởi niệm quán
thân là bất tịnh, người ta vẫn
thấy thân là khả ái. Vậy có nhân
duyên nào khác khiến các Tỳ khưu
trẻ ấy … sống phạm hạnh trọn đời
và không gián đoạn không?”
7.
“Tâu đại vương, đức Thế Tôn đã
dạy rằng: ‘Này các Tỳ khưu, hãy
sống giữ gìn các căn. Khi thấy
sắc bằng mắt, chớ nắm lấy tướng
chung hay tướng riêng. Vì nếu
mắt không được hộ trì, các pháp
bất thiện như tham ái và sân hận
có thể xâm nhập. Hãy thực hành
sự hộ trì mắt, giữ gìn và chế
ngự căn mắt. Khi nghe âm thanh
bằng tai … ngửi mùi bằng mũi …
nếm vị bằng lưỡi … xúc chạm bằng
thân … nhận biết pháp bằng ý,
cũng chớ nắm lấy tướng chung hay
tướng riêng. Vì nếu ý không được
hộ trì, các pháp bất thiện có
thể xâm nhập. Hãy giữ gìn và chế
ngự căn ý.’ Đây cũng là một nhân
và duyên, tâu đại vương, khiến
các vị Tỳ khưu trẻ ấy … sống
phạm hạnh trọn đời và không gián
đoạn.”
8.
“Thật kỳ diệu, Tôn giả
Bhāradvāja! Thật hiếm có, Tôn
giả Bhāradvāja! Những lời này đã
được đức Thế Tôn – bậc A-la-hán,
Chánh Đẳng Giác – tuyên thuyết
thật rõ ràng. Quả thật, đây là
nhân duyên khiến các vị Tỳ khưu
trẻ tuổi, tóc còn đen, đang ở
tuổi thanh xuân, chưa từng đắm
nhiễm dục lạc, có thể sống phạm
hạnh trọn vẹn suốt đời mà không
gián đoạn. Ngay như trẫm, khi
vào hậu cung mà không giữ gìn
thân, khẩu, ý, không có chánh
niệm, không hộ trì các căn, thì
dục tưởng dễ khởi mạnh mẽ. Nhưng
khi vào hậu cung với thân khẩu ý
hộ trì, có chánh niệm, và chế
ngự các căn, thì dục tưởng không
còn chi phối mãnh liệt như vậy.”
9.
“Thật tuyệt vời, Tôn giả
Bhāradvāja! Thật tuyệt vời! Tôn
giả đã làm sáng tỏ Giáo Pháp
bằng nhiều cách – như người dựng
đứng lại vật bị lật ngửa, chỉ
đường cho người lạc, soi sáng
nơi tối tăm bằng ngọn đèn cho
người có mắt thấy rõ. Tôn giả
Bhāradvāja, từ nay trở đi, xin
Ngài hãy xem trẫm là cư sĩ đã
quy y Phật, Pháp, và Tăng suốt
đời.”
CHÚ THÍCH
Những điểm cần chú thích có thể
tìm thấy trong bản dịch sớ giải
dưới đây.
SỚ GIẢI
Piṇḍolo:
Gọi là “Piṇḍolo”
vì thọ giới xuất gia với mục
đích tìm kiếm thức ăn. Ngài là
một vị Bà-la-môn đã già, thấy
chư Tăng được cúng dường nên
xuất gia. Ngài mang một cái bát
sọ lớn, dùng để uống cháo, ăn
bánh, ăn cơm. Khi người ta bạch
lại với đức Phật về thói quen
ấy, Ngài không cho phép sử dụng
loại bát ấy nữa. Từ đó, Piṇḍolo
để bát úp dưới sàn và dùng bằng
cách kéo lê làm mòn khiến bình
bát nhỏ lại. Cuối cùng, đức Phật
lại cho phép dùng bình bát ấy.
Về sau, nhờ tu tập phát triển
nội tâm, ngài chứng quả
A-la-hán. Vì xuất gia để có thực
phẩm nên được gọi là Piṇḍolo,
và do thuộc dòng họ Bhāradvāja
nên gọi đầy đủ là
Piṇḍola
Bhāradvāja.
“Upasaṅkamī” – vị vua đến gần:
Một hôm, sau khi khất thực và
thọ thực, ngài đến tịnh xá bên
sông Gaṅgā thuộc vườn của vua
Udena để trú mát trong giờ trưa.
Vua Udena, sau bảy ngày uống
rượu, cho người dọn vườn và vào
nghỉ trên bệ đá. Một nữ hầu ngồi
dưới xoa chân cho vua. Khi vua
ngủ, các vũ nữ thấy vậy bèn rút
lui, đi lang thang trong vườn,
thấy Tôn giả thì lặng lẽ ngồi
xuống, và được ngài thuyết pháp
phù hợp căn cơ.
Nữ hầu làm vua thức dậy. Vua hỏi
các cô gái đâu, được trả lời
rằng họ đang vây quanh một sa
môn. Vua tức giận, định sai đàn
kiến lửa (kipillikā) cắn chết
ngài, nhưng khi kéo tổ kiến
xuống, nó rơi trúng đầu vua
khiến thân thể đau đớn như bị
thiêu. Tôn giả biết tâm vua bất
thiện nên bay lên không trung.
Các cung nữ không vui, than
phiền hành vi vua đối với vị
xuất gia.
Vua nhận ra lỗi lầm, hỏi người
giữ vườn và dặn nếu Tôn giả đến
nữa thì phải báo ngay. Vài ngày
sau, ngài lại đến. Người giữ
vườn báo vua, và vua dẫn theo
các quan đại thần đến gặp ngài.
Vì thế nói rằng: “vua đến gần”
(upasaṅkamī).
“Anikīḷitāvino
kāmesu” – tức là những vị
chưa từng chơi đùa với các dục.
Những ai từ nhỏ chưa từng hưởng
thụ dục lạc thì gọi là chưa bị
dính mắc. Việc dùng hình ảnh mẹ,
chị, con gái là để chuyển hóa
tâm khỏi dính mắc vào dục bằng
các đối tượng đáng kính.
“Bhāvitakāyo”
– nghĩa là thân được phát triển
qua sự điều phục năm căn. Với
người chưa phát triển thân ấy,
thì việc hành trì quán bất tịnh
là khó khăn. Vì vậy đức Phật dạy
phương pháp giới luật hộ trì các
căn, vì tâm được hộ trì không bị
dao động bởi các cảnh dục.
Ba loại thân được nêu trong
kinh:
1.
Karajakāya
– thân vật chất làm bằng bốn
đại: được nhắc đến trong đoạn
“imameva kāyaṃ…”
2.
Pañcadvārikakāya
– thân liên quan đến năm cửa
giác quan: “abhāvitakāyo”
3.
Cālanakāya (copanakāyo)
– thân hành động với tác ý:
“rakkhiteneva kāyena…”
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
127. IV. Bhàradvàja (S.iv,110)
1) Một thời Tôn giả
Pindolabhàradvàja trú ở Kosambi,
tại vườn Ghosità.
2) Rồi vua Udena đi đến Tôn giả
Pindolabhàradvàja; sau khi đến,
nói lên với Tôn giả
Pindolabhàradvàja những lời chào
đón hỏi thăm, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu rồi ngồi xuống một bên.
3) Ngồi xuống một bên, vua Udena
thưa với Tôn giả
Pindolabhàradvàja:
-- Thưa Bhàradvàja, do nhân gì,
do duyên gì, những Tỷ-kheo trẻ
tuổi này, còn non trẻ, tóc đen
nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền
thiện, trong lúc tuổi còn thanh
xuân lại không tham nhiễm dục
vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn
toàn thanh tịnh cho đến trọn
đời, và sống toàn thời gian một
cách hoàn mãn (addhànam
apàdenti)?
4) -- Thưa Ðại vương, Thế Tôn,
bậc Tri giả, Kiến giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói
như sau: "Hãy đến, này các
Tỷ-kheo, đối với những người chỉ
là mẹ, hãy an trú tâm người mẹ.
Ðối với những người chỉ là chị,
hãy an trú tâm người chị. Ðối
với người chỉ là con gái, hãy an
trú tâm người con gái. Thưa Ðại
Vương, đây là nhân, đây là
duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ
tuổi này, còn non trẻ, tóc đen
nhánh, đầy đủ với tuổi trẻ hiền
thiện, trong lúc tuổi còn thanh
xuân lại không tham nhiễm dục
vọng, thực hành Phạm hạnh hoàn
toàn thanh tịnh cho đến trọn
đời, và sống toàn thời gian một
cách hoàn mãn.
5) -- Tham vọng (loba), này
Bhàradvàja, là tâm. Ðôi khi đối
với những người chỉ là mẹ, tham
pháp khởi lên. Ðối với những
người chỉ là chị, tham pháp khởi
lên. Ðối với những người chỉ là
con gái, tham pháp khởi lên. Này
Bhàradvàja, có một nhân khác, có
một duyên khác, do vậy các
Tỷ-kheo trẻ tuổi này... một cách
hoàn mãn?
6) -- Thưa Ðại vương, Thế Tôn,
bậc Tri giả, Kiến giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói
như sau: "Hãy đến, này các
Tỷ-kheo, hãy quán sát thân này
dưới từ bàn chân trở lên, trên
từ đảnh tóc trở xuống, bao bọc
bởi da và chứa đầy bất tịnh sai
biệt. Trong thân này, đây là
tóc, lông, móng, răng, da, thịt,
gân, xương, tủy, thận, tim, gan,
hoành cách mô, lá lách, phổi,
ruột, bao tử, phân, mật, đàm,
mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,
mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước
ở khớp xương, nước tiểu. Thưa
Ðại vương, đây là nhân, đây là
duyên, do vậy các Tỷ-kheo trẻ
tuổi này... sống toàn thời gian
một cách hoàn mãn.
7) -- Này Bhàradvàja, đối với
những Tỷ-kheo nào, thân có tu
tập, giới có tu tập, tâm có tu
tập, tuệ có tu tập, thời như vậy
thật là dễ dàng. Và này
Bhàradvàja, đối với những
Tỷ-kheo nào, thân không có tu
tập, giới không có tu tập, tâm
không có tu tập, tuệ không có tu
tập thời như vậy thật là khó
khăn. Ðôi khi, này Bhàradvàja,
có người nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ
tác ý bất tịnh", nhưng lại đi
đến tịnh (tướng). Này
Bhàradvàja, có nhân nào khác,
duyên nào khác, do vậy các
Tỷ-kheo trẻ tuổi này... sống
toàn thời gian một cách hoàn
mãn?
8) -- Thưa Ðại vương, Thế Tôn,
bậc Tri giả, Kiến giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nói
như sau: "Hãy đến, này các
Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì các
căn. Sau khi mắt thấy sắc, chớ
có nắm giữ tướng chung, chớ có
nắm giữ tướng riêng. Những
nguyên nhân gì, vì đó nhãn căn
không được chế ngự, khiến tham
ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp
khởi lên; hãy thực hành chế ngự
nguyên nhân ấy, hãy hộ trì nhãn
căn, thực hành hộ trì nhãn căn.
Khi tai nghe tiếng... khi mũi
ngửi hương... khi lưỡi nếm vị...
khi thân cảm xúc... khi ý nhận
thức các pháp, chớ có nắm giữ
tướng chung, chớ có nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân
gì, vì đó ý căn không được chế
ngự, khiến tham ái, ưu bi, các
ác bất thiện pháp khởi lên; hãy
thực hành chế ngự nguyên nhân
ấy, hãy hộ trì ý căn, thực hành
hộ trì ý căn. Thưa Ðại vương,
đây là nhân, đây là duyên, do
vậy những Tỷ-kheo trẻ tuổi
này... sống toàn thời gian một
cách hoàn mãn.
9) -- Thật vi diệu thay, thưa
Tôn giả Bhàradvàja! Thật hy hữu
thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja,
là lời khéo nói này của Thế Tôn,
bậc Tri giả, Kiến giả, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính
nhân này, thưa Tôn giả
Bhàradvàja, chính duyên này, do
vậy các Tỷ-kheo trẻ tuổi này,
còn non trẻ, tóc đen nhánh, đầy
đủ với tuổi trẻ hiền thiện,
trong lúc tuổi còn thanh xuân,
lại không tham nhiễm dục vọng,
thực hành Phạm hạnh hoàn toàn
thanh tịnh cho đến trọn đời,
sống toàn thời gian một cách
hoàn mãn.
10) Tôi cũng vậy, thưa Tôn giả
Bhàradvàja, khi nào tôi vào
trong nội cung với thân không
phòng hộ, với lời nói không
phòng hộ, với tâm không phòng
hộ, với niệm không an trú, với
các căn không chế ngự; thời
trong khi ấy, tham pháp chinh
phục tôi. Nhưng thưa Tôn giả
Bhàradvàja, trong khi tôi vào
nội cung, với thân được phòng
hộ, với lời nói được phòng hộ,
với tâm được phòng hộ, với niệm
được an trú, với các căn được
chế ngự; thời trong khi ấy, tham
pháp không chinh phục tôi.
11) Thật hy hữu thay, thưa Tôn
giả Bhàradvàja! Thật hy hữu
thay, thưa Tôn giả Bhàradvàja!
Thưa Tôn giả Bhàradvàja, như
người dựng đứng lại những gì bị
quăng ngã xuống, phơi bày ra
những gì bị che kín, chỉ đường
cho những kẻ lạc hướng, đem đèn
sáng vào trong bóng tối để cho
những ai có mắt có thể thấy sắc.
Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn
giả Bhàradvàja dùng nhiều phương
tiện trình bày, giải thích. Vậy
nay, thưa Tôn giả Bhàradvàja,
con xin quy y Thế Tôn, quy y
Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo. Tôn
giả Bhàradvàja hãy nhận con làm
đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng
chung, con xin trọn đời quy
ngưỡng.
-ooOoo- |