|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 10 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH VĂN
Một thuở,
Tôn
giả Mahà Kaccàna trú giữa dân
chúng Avanti. tại núi
Pāpāta, ở Kuraragāha, Bấy giờ,
cư sĩ Hāliddakāni đến gần Tôn
giả, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một
bên và thưa rằng:
“‘Dhātunānattaṁ paṭicca
phassanānattaṁ; phassanānattaṁ
paṭicca vedanānānattan’ti—iti
bhante vuttaṁ, kittāvatā nu kho,
bhante, dhātunānattaṁ paṭicca
phassanānattaṁ, phassanānattaṁ
paṭicca vedanānānattaṁ hotī”ti?
(Tôn giả Mahākaccāna trả lời)
“Tatra, gahapati, bhikkhu
cakkhunā rūpaṁ disvā ‘rūpaṁ
disvā’ti pajānāti. Tassa rūpaṁ
disvā cakkhuviññāṇaṁ uppajjati.
Sampajānaṁ vedanāsampayuttaṁ
hoti. Sukhāya vedanāya
sampayuttaṁ phassaṁ paṭicca
sukhā vedanā uppajjati. Rūpaṁ
disvā dukkhasamphassajā vedanā
uppajjati; rūpaṁ disvā
adukkhamasukhā vedanā uppajjati.
Khi thấy sắc mà xúc gắn liền với
cảnh khả ái, thì lạc thọ khởi
lên.
Cũng như vậy, khi:
Nghe âm thanh bằng tai
có lạc thọ, khổ thọ, hay
thọ trung tính.
Ngửi mùi bằng mũi ….
Nếm vị bằng lưỡi,
…
Xúc chạm bằng thân…
Nhận biết cảnh pháp bằng ý
thì tùy loại xúc mà sinh
ra lạc, khổ hay bất khổ bất lạc.
“Này cư sĩ, chính theo cách ấy:
CHÚ THÍCH
Tôn giả Mahā Kaccāna
(Kaccāyana) phiên âm Hán Việt là
Ma Ha Ca Chiên Diên — một trong
những đệ tử lỗi lạc nhất của Đức
Phật. Ngài sinh ra tại Ujjenī,
thuộc gia đình Bà-la-môn làm
quốc sư cho Vua Candappajjota.
Ngài thuộc dòng Kaccāyana, nên
được gọi là Kaccāna hay
Kaccāyana. Trước khi xuất gia
theo Phật, Ngài thông thạo
Vệ-đà, kế nhiệm cha làm quốc sư.
Khi vua Candappajjota nghe tin
Phật xuất hiện, cử quốc sư
Kaccāna cùng 7 người đến thỉnh
Phật về Ujjenī. Sau khi nghe
pháp, cả nhóm đắc A-la-hán và
xin xuất gia. Phật thay vì nhận
lời về Ujjeni hoằng hoá thì
bảo rằng Tôn giả Kaccāna
đủ năng lực hướng dẫn Phật pháp
thay Ngài tại Ujjenī.
Trên đường về Ujjenī, Tôn giả
Kaccāna nhận bữa ăn cúng dường
từ một cô gái nghèo tại
Telappanāli — cô này sau trở
thành hoàng hậu của
Candappajjota. Tại Ujjenī, Ngài
ở trong vườn vua, thuyết pháp
cho dân chúng, nhiều người xuất
gia theo
khiến nơi nầy “tràn ngập
y vàng”, biểu tượng cho sự hưng
thịnh của Giáo pháp.
Sau khi thiết lập Giáo pháp ở xứ
Avanti, Ngài về từng gặp Phật
tại Kapilavatthu, giảng rõ Kinh
Madhupiṇḍika và nhiều nơi khác.
Được Đức Phật tuyên dương là:
"Bậc tối thắng trong việc giảng
giải rộng rãi
điều được nói vắn tắt "
(sankhittena bhāsitassa
vitthārena atthaṁ vibhajantānaṁ)
– A.i.23.
Cư sĩ Hāliddakāni (hoặc
Hāliddikāni) — một vị cư sĩ hộ
pháp lỗi lạc xứ Avantī. Được xem
là người trí thức, thường thảo
luận pháp với các vị Thánh Tăng,
đặc biệt là Tôn giả Mahā
Kaccāna. Các câu hỏi của ông
thường là cửa ngõ để Tôn giả
Mahā Kaccāna giảng những pháp
sâu sắc mà Đức Phật chỉ gợi ý
vắn tắt.
Y cứ trên lời Phật dạy, Tôn giả
Mahākaccayana giảng rộng theo
cách quán sát của người tu tứ
niệm xứ. Một cách thú vị là bản
Sớ Giải phân tích theo Thắng
Pháp Abhidhamma về quan hệ giữa
xúc và thọ, theo duyên hệ. Các
thuật ngữ như upanissaya,
samanantara, sampayutta là các
loại duyên (paccaya) trong
Paṭṭhāna – Bộ thứ bảy của Thắng
Pháp Tạng ( Abhidhamma Piṭaka).
Phân biệt giữa manodhātu (ý
giới) và manoviññāṇadhātu (ý
thức giới), là điểm quan trọng
chỉ có thể tìm thấy trong Thắng
Pháp Abhidhamma.
SỚ GIẢI
130–131. Sattame “manāpaṃ
itthetanti pajānātī”ti—
Ở kinh thứ bảy (tức bài kinh số
130):
“Cái này thật sự là khả ái.”
Cakkhuviññāṇaṃ sukhavedaniyañca
phassaṃ paṭiccāti—
“Do nhãn thức và xúc đem lại lạc
thọ làm duyên nên sanh lạc thọ”:
Chính là nhãn thức,
Và xúc – vốn là duyên cho lạc
thọ, theo nhiều cách như:
Esa nayo sabbattha.
Cách giải thích này áp dụng
tương tự cho tất cả các trường
hợp còn lại (tức các căn và cảm
thọ khác nhau).
Iti imesu dvīsu suttesu
kiriyāmanoviññāṇadhātu
āvajjanakiccā, manodhātuyeva vā
samānā manodhātunāmena vuttāti
veditabbā.
Như vậy, trong hai bài kinh này
(130–131),
Aṭṭhamaṃ uttānameva.
Kinh thứ tám (tức Kinh số 131,
tiếp theo sau Hāliddakāni) thì
rõ ràng, dễ hiểu, không cần giải
thích thêm.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
130. VII. Haliddhaka (S.iv,115)
1) Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna
trú giữa dân chúng Avanti, tại
Kuraraghara, trong một hang núi.
2) Rồi gia chủ Hàliddikàni đi
đến Tôn giả Mahà Kaccàna...
3) Ngồi xuống một bên, gia chủ
Hàliddikàni thưa với Tôn giả
Mahà Kaccàna:
-- Thưa Tôn giả, Thế Tôn nói như
sau: "Do duyên sai biệt về giới
khởi lên sai biệt về xúc. Do
duyên sai biệt về xúc khởi lên
sai biệt về thọ". Như thế nào,
thưa Tôn giả, do duyên sai biệt
về giới khởi lên sai biệt về
xúc; do duyên sai biệt về xúc
khởi lên sai biệt về thọ?
4) -- Ở đây, này Gia chủ,
Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc khả ý,
nghĩ rằng: "Ðây là vậy, đây là
vậy", được biết rõ nhãn thức có
lạc xúc. Do duyên lạc xúc khởi
lên lạc thọ. Khi mắt thấy sắc
bất khả ý, nghĩ rằng: "Ðây là
vậy, đây là vậy", được biết rõ
nhãn thức có khổ xúc. Do duyên
khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi
mắt thấy sắc trú xả, nghĩ rằng:
"Ðây là vậy, đây là vậy", được
biết rõ nhãn thức có bất khổ bất
lạc xúc. Do duyên bất khổ bất
lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc
thọ.
5-9) Lại nữa, này Gia chủ, khi
tai nghe tiếng... khi mũi ngửi
hương... khi lưỡi nếm vị... khi
thân cảm xúc... khi ý biết pháp
khả ý, nghĩ rằng: "Ðây là vậy,
đây là vậy", được biết rõ ý thức
có lạc xúc. Do duyên lạc xúc
khởi lên lạc thọ. Khi ý biết
pháp bất khả ý, nghĩ rằng: "Ðây
là vậy, đây là vậy", được biết
rõ ý thức có khổ xúc. Do duyên
khổ xúc khởi lên khổ thọ. Khi ý
biết pháp trú xả, nghĩ rằng:
"Ðây là vậy, đây là vậy", được
biết rõ ý thức có bất khổ bất
lạc xúc. Do duyên bất khổ bất
lạc xúc khởi lên bất khổ bất lạc
thọ.
10) Như vậy, này Gia chủ, do
duyên sai biệt về giới khởi lên
sai biệt về xúc. Do duyên sai
biệt về xúc khởi lên sai biệt về
thọ.
-ooOoo- |