|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 12 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH VĂN
Ekaṁ samayaṁ āyasmā mahākaccāno
avantisu viharati
makkarakaṭaṭavane yena
vihārapacchā. [117] Atha kho
sambahulā brāhmaṃamāṃavakā
lohiccabrāhmaṇassa antevāsī,
kaṁhasusānaṭāya tiṭhāraṇāya,
yenāyasmato mahākaccānassa
vihāro tenupasaṁkamiṇsu...
Một thuở, Tôn giả Mahākaccāna
trú tại vùng Avantī, trong khu
rừng Makkarakaṭa. Khi ấy, có một
nhóm thanh niên bà la môn, đệ tử
của Bà la môn Lohicca, đi nhặt
củi trong rừng, ngang qua tịnh
thất của Tôn giả.
Te vihārapacchāyānipi
parikkamanti paricaraṇṭi, tesaṁ
upakkilesā honti: "Ime
muṁḍakasamaṃā, dāsaparicārikā,
kaṇhā bhagavato pādānujātaā,
sakkarĮyamānā garukāriyamānā
māneyyamānā pūjiyamānā"ti.
Họ đi lê la quanh tăng xá, đào
chê, đứa giỡn: "Bọn sa-môn đầu
trọc này, sinh ra từ chân đức
Phạm Thiên, là đâu là giá trị
cao sang? Sao lại được cung
kính, tôn thờ như vậy?"
atha kho āyasmā mahākaccāno
vihārā nikkhamitvā te māṇavake
etadavoca — “mā māṇavakā
saddamakattha; dhammaṃ vo
bhāsissāmī”ti. evaṃ vutte, te
māṇavakā tuṇhī ahesuṃ. atha kho
āyasmā mahākaccāno te māṇavake
gāthāhi ajjhabhāsi —
Tôn giả Mahākaccāna bước ra
ngoài,
nhẹ nhàng nói:
"Này các bạn trẻ, đừng làm ồn.
Hãy để ta giảng Pháp cho các
cháu."
Họ lặng yên. Rồi Ngài nói bằng
bài kệ:
Sīluttamā pubbatarā ahesuṃ,
Bậc cổ đức ngày trước
Phạm chí biết luật xưa
Họ sống vui lẽ đạo
Ime ca vokkamma japāmaseti,
Còn giờ kẻ mê lầm
Aguttadvārassa bhavanti moghā,
Ai sáu căn buông thả
Anāsakā thaṇḍilasāyikā ca,
Nhịn đói, ngủ trên đất,
Cittañca susamāhitaṃ,
Ai định tĩnh, nhất tâm
atha kho te māṇavakā kupitā
anattamanā yena lohicco brāhmaṇo
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā
lohiccaṃ brāhmaṇaṃ etadavocuṃ —
“yagghe! bhavaṃ jāneyya, samaṇo
mahākaccāno brāhmaṇānaṃ mante
{mantaṃ (ka.)} ekaṃsena
apavadati, paṭikkosatī”ti? evaṃ
vutte, lohicco brāhmaṇo kupito
ahosi anattamano. atha kho
lohiccassa brāhmaṇassa etadahosi
— “na kho pana metaṃ patirūpaṃ
yohaṃ aññadatthu māṇavakānaṃyeva
sutvā samaṇaṃ mahākaccānaṃ
akkoseyyaṃ {akkoseyyaṃ
virujjheyyaṃ (syā. kaṃ. ka.)}
paribhāseyyaṃ. yaṃnūnāhaṃ
upasaṅkamitvā puccheyyan”ti.
Nghe vậy, các thanh niên bực tức
trở về và kể lại với thầy mình
là Bà-la-môn Lohicca:
“Bạch thầy, sa-môn Mahākaccāna
nhục mạ kinh điển Bà-la-môn của
chúng ta!”
Sau khi nghe nhóm đệ tử thuật
lại lời giảng của Tôn giả
Mahākaccāna, Bà-la-môn Lohicca
nổi giận. Nhưng rồi ông suy
nghĩ:
“Không đúng đắn khi ta vội vàng
mắng nhiếc sa môn Mahākaccāna
chỉ vì lời kể lại từ những đứa
trẻ. Tốt hơn hết, ta nên tự mình
đến gặp và hỏi cho rõ.”
atha kho lohicco
brāhmaṇo tehi māṇavakehi saddhiṃ
yenāyasmā mahākaccāno
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
āyasmatā mahākaccānena saddhiṃ
sammodi. sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ
nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho
lohicco brāhmaṇo āyasmantaṃ
mahākaccānaṃ etadavoca —
“āgamaṃsu nu khvidha, bho
kaccāna, amhākaṃ sambahulā
antevāsikā kaṭṭhahārakā
māṇavakā”ti? “āgamaṃsu khvidha
te, brāhmaṇa, sambahulā
antevāsikā kaṭṭhahārakā
māṇavakā”ti. “ahu pana bhoto
kaccānassa tehi māṇavakehi
saddhiṃ kocideva
kathāsallāpo”ti? “ahu kho me,
brāhmaṇa, tehi māṇavakehi
saddhiṃ kocideva
kathāsallāpo”ti. “yathā kathaṃ
pana bhoto kaccānassa tehi
māṇavakehi saddhiṃ ahosi
kathāsallāpo”ti? “evaṃ kho me,
brāhmaṇa, tehi māṇavakehi
saddhiṃ ahosi kathāsallāpo —
“sīluttamā pubbatarā
ahesuṃ,
te brāhmaṇā ye purāṇaṃ
saranti. ... pe ....
akhilaṃ sabbabhūtesu,
so maggo
brahmapattiyā”ti.
“evaṃ kho me, brāhmaṇa,
tehi māṇavakehi saddhiṃ ahosi
kathāsallāpo”ti.
Lohicca dẫn các đệ tử đến gặp
Tôn giả, chào hỏi và ngồi sang
một bên.
Ông hỏi:
“Tôn giả Kaccāna, các học trò
của tôi có đến đây khi đi nhặt
củi không?”
– “Có, họ có đến đây.”
“Ngài có nói chuyện gì với họ
chăng?”
– “Có một cuộc trò chuyện.”
“Nội dung cuộc trò chuyện là
gì?”
Tôn giả lặp lại toàn bộ các bài
kệ đã giảng (đã dịch ở phần
trước), rồi kết thúc:
“Đó là nội dung ta đã nói với
họ.”
“‘aguttadvāro’ti {aguttadvāro
aguttadvāroti (ka.)} bhavaṃ
kaccāno āha. kittāvatā nu kho,
bho kaccāna, aguttadvāro
hotī”ti? “idha, brāhmaṇa, ekacco
cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe
rūpe adhimuccati, appiyarūpe
rūpe byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati
{anupaṭṭhitāya satiyā (syā. kaṃ.
pī. ka.) upari āsīvisavagge
avassutasutte pana
“anupaṭṭhitakāyassatī”tveva
sabbattha dissati} ca viharati,
parittacetaso tañca cetovimuttiṃ
paññāvimuttiṃ yathābhūtaṃ
nappajānāti yatthassa te uppannā
pāpakā akusalā dhammā aparisesā
nirujjhanti. sotena saddaṃ
sutvā... ghānena gandhaṃ
ghāyitvā... jivhāya rasaṃ
sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ
phusitvā... manasā dhammaṃ
viññāya piyarūpe dhamme
adhimuccati, appiyarūpe ca
dhamme byāpajjati,
anupaṭṭhitakāyassati ca
viharati, parittacetaso tañca
cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
yathābhūtaṃ nappajānāti
yatthassa te uppannā pāpakā
akusalā dhammā aparisesā
nirujjhanti. evaṃ kho, brāhmaṇa,
aguttadvāro hotī”ti.
“acchariyaṃ, bho kaccāna;
abbhutaṃ, bho kaccāna!
yāvañcidaṃ bhotā kaccānena
aguttadvārova samāno
aguttadvāroti akkhāto.
[Lohicca hỏi:]
“Thưa ngài Kaccāna, ngài có nói
đến người ‘không hộ trì các
căn’. Thế nào là người như vậy?”
[Tôn giả giảng:]
(Tương tự với) tai nghe âm
thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm
vị, thân xúc chạm, ý nhận biết
cảnh pháp. Người ấy không có
chánh niệm, tâm giới hạn, không
nhận thức như nhiên với tâm giải
thoát và tuệ giải thoát do vậy
các pháp bất thiện diệt tận
không dư sót.
“Với tâm tham đắm, sân hận,
thiếu chánh niệm và trí tuệ,
người ấy chính là ‘không hộ trì
các căn.’”
“‘guttadvāro’ti bhavaṃ kaccāno
āha. kittāvatā nu kho, bho
kaccāna, guttadvāro hotī”ti?
“idha, brāhmaṇa, bhikkhu
cakkhunā rūpaṃ disvā piyarūpe
rūpe nādhimuccati, appiyarūpe
rūpe na byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca viharati,
appamāṇacetaso tañca
cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
yathābhūtaṃ pajānāti yatthassa
te uppannā pāpakā akusalā dhammā
aparisesā nirujjhanti. sotena
saddaṃ sutvā... ghānena gandhaṃ
ghāyitvā... jivhāya rasaṃ
sāyitvā... kāyena phoṭṭhabbaṃ
phusitvā... manasā dhammaṃ
viññāya piyarūpe dhamme
nādhimuccati, appiyarūpe dhamme
na byāpajjati,
upaṭṭhitakāyassati ca viharati,
appamāṇacetaso tañca
cetovimuttiṃ paññāvimuttiṃ
yathābhūtaṃ pajānāti, yatthassa
te uppannā pāpakā akusalā dhammā
aparisesā nirujjhanti. evaṃ kho,
brāhmaṇa, guttadvāro hotī”ti.
[Lohicca lại hỏi:]
“Thế nào là người ‘hộ trì các
căn’?”
[Tôn giả giảng:]
“Ở đây, khi người thấy sắc bằng
mắt, không đắm say cái đẹp,
không ghét bỏ cái xấu.
Người ấy
có chánh niệm, tâm không hạn
cuộc, nhận thức như nhiên với
tâm giải thoát và tuệ giải thoát
do vậy các pháp bất thiện diệt
tận không dư sót.
Tương tự với tai, mũi, lưỡi,
thân, và ý…. Người ấy có chánh
niệm, tâm không hạn cuộc, nhận
thức như nhiên với tâm giải
thoát và tuệ giải thoát do vậy
các pháp bất thiện diệt tận
không dư sót.
“Với tâm tham đắm, sân hận,
thiếu chánh niệm và trí tuệ,
người ấy chính là ‘không hộ trì
các căn.’”
“acchariyaṃ, bho kaccāna;
abbhutaṃ, bho kaccāna!
yāvañcidaṃ bhotā kaccānena
guttadvārova samāno guttadvāroti
akkhāto. abhikkantaṃ, bho
kaccāna; abhikkantaṃ, bho
kaccāna! seyyathāpi, bho
kaccāna, nikkujjitaṃ vā
ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā
vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ
ācikkheyya, andhakāre vā
telapajjotaṃ dhāreyya,
cakkhumanto rūpāni dakkhantīti;
evamevaṃ bhotā kaccānena
anekapariyāyena dhammo pakāsito.
esāhaṃ, bho kaccāna, taṃ
bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi,
dhammañca, bhikkhusaṅghañca.
upāsakaṃ maṃ bhavaṃ kaccāno
dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ
saraṇaṃ gataṃ. yathā ca bhavaṃ
kaccāno makkarakate
upāsakakulāni upasaṅkamati;
evameva lohiccakulaṃ
upasaṅkamatu. tattha ye māṇavakā
vā māṇavikā vā bhavantaṃ
kaccānaṃ abhivādessanti
paccuṭṭhissanti āsanaṃ vā udakaṃ
vā dassanti, tesaṃ taṃ
bhavissati dīgharattaṃ hitāya
sukhāyā”ti. navamaṃ.
[Lohicca hoan hỷ thốt lên:]
“Thật tuyệt diệu, thưa Tôn giả
Kaccāna!, thật tuyệt diệu, thưa
Tôn giả Kaccāna!,
CHÚ THÍCH
Lohicca là một Bà-la-môn
cư ngụ tại Makkarakata,
thuộc xứ Avanti.
Xem thêm bản dịch Sớ giải với
nhiều chi tiết (…)
SỚ GIẢI
132. navame makkarakateti
evaṃnāmake nagare
araññakuṭikāyanti araññe katāya
pāṭiyekkāya kuṭiyaṃ, na
vihārapaccantakuṭiyaṃ.
māṇavakāti yepi tattha
mahallakā, te mahallakakālepi
antevāsikatāya māṇavakātveva
vuttā. tenupasaṅkamiṃsūti pāto
sippaṃ uggaṇhitvā sāyaṃ
“ācariyassa kaṭṭhāni
āharissāmā”ti araññaṃ pavisitvā
vicarantā yena sā kuṭikā,
tenupasaṅkamiṃsu. parito parito
kuṭikāyāti tassā kuṭikāya
samantato samantato.
seleyyakānīti aññamaññassa
piṭṭhiṃ gahetvā laṅghitvā ito
cito caṅkamanakīḷanāni.
muṇḍakātiādīsu muṇḍe muṇḍāti,
samaṇe ca samaṇāti vattuṃ
vaṭṭeyya, ime pana hīḷentā
“muṇḍakā samaṇakā”ti āhaṃsu.
ibbhāti gahapatikā. kaṇhāti
kaṇhā, kāḷakāti attho.
bandhupādāpaccāti ettha bandhūti
brahmā adhippeto. tañhi brāhmaṇā
pitāmahoti voharanti. pādānaṃ
apaccā pādāpaccā, brahmuno
piṭṭhipādato jātāti adhippāyo.
tesaṃ kira ayaṃ laddhi “brāhmaṇā
brahmuno mukhato nikkhantā,
khattiyā urato, vessā nābhito,
suddā jāṇuto, samaṇā
piṭṭhipādato”ti. bharatakānanti
kuṭimbikānaṃ. kuṭimbikā hi yasmā
raṭṭhaṃ bharanti, tasmā
bharatāti vuccanti. ime pana
paribhavaṃ katvā vadamānā
“bharatakānan”ti āhaṃsu.
vihārā nikkhamitvāti
“rattiṭṭhakāparicchanne
rajatapaṭṭasannibhasamavippakiṇṇavālike
ramaṇīye pariveṇe kaṭṭhakalāpe
bandhitvā khipamānā vālikaṃ
āluḷetvā, hatthena hatthaṃ ādāya
paṇṇakuṭiṃ pariyāyantā ‘ime
imesaṃ bharatakānaṃ sakkatā, ime
imesaṃ bharatakānaṃ sakkatā’ti
punappunaṃ viravantā ativiya ime
māṇavakā kīḷaṃ karonti, vihāre
bhikkhūnaṃ atthibhāvampi na
jānanti, dassessāmi nesaṃ
bhikkhūnaṃ atthibhāvan”ti
cintetvā paṇṇakuṭito nikkhami.
sīluttamā pubbatarā ahesunti
guṇavantānaṃ guṇe kathite
nigguṇānaṃ guṇābhāvo pākaṭova
bhavissatīti porāṇakabrāhmaṇānaṃ
guṇe kathento evamāha. tattha
sīluttamāti sīlajeṭṭhakā.
sīlañhi tesaṃ uttamaṃ, na
jātigottaṃ. ye purāṇaṃ sarantīti
ye porāṇakaṃ brāhmaṇadhammaṃ
saranti. abhibhuyya kodhanti
kodhaṃ abhibhavitvā tesaṃ
dvārāni suguttāni surakkhitāni
ahesuṃ. dhamme ca jhāne ca
ratāti dasavidhe
kusalakammapathadhamme
aṭṭhasamāpattijhānesu ca ratā.
evaṃ porāṇānaṃ guṇaṃ kathetvā
athetarahi brāhmaṇānaṃ mānaṃ
nimmaddento ime ca vokkamma
japāmasetiādimāha. tattha
vokkammāti etehi guṇehi
apakkamitvā. japāmaseti mayaṃ
japāma sajjhāyāmāti ettakeneva
brāhmaṇamhāti maññamānā brāhmaṇā
mayanti iminā gottena mattā
hutvā visamaṃ caranti, visamāni
kāyakammādīni karontīti attho.
puthuattadaṇḍāti puthu attā
daṇḍā etehīti puthuattadaṇḍā,
gahitanānāvidhadaṇḍāti attho.
sataṇhātaṇhesūti
sataṇhanittaṇhesu.
aguttadvārassa bhavanti moghāti
asaṃvutadvārassa sabbepi
vatasamādānā moghā bhavantīti
dīpeti. yathā kinti? supineva
laddhaṃ purisassa vittanti yathā
supine purisassa laddhaṃ
maṇimuttādinānāvidhaṃ vittaṃ
moghaṃ hoti, pabujjhitvā kiñci
na passati, evaṃ moghā
bhavantīti attho.
anāsakāti ekāhadvīhādivasena
anāhārakā. thaṇḍilasāyikā cāti
haritakusasanthate bhūmibhāge
sayanaṃ, pāto sinānañca tayo ca
vedāti pātova udakaṃ pavisitvā
nhānañceva tayo ca vedā.
kharājinaṃ jaṭā paṅkoti
kharasamphassaṃ ajinacammañceva
jaṭākalāpo ca paṅko ca, paṅko
nāma dantamalaṃ. mantā
sīlabbataṃ tapoti mantā ca
ajasīlagosīlasaṅkhātaṃ sīlaṃ
ajavatagovatasaṅkhātaṃ vatañca.
ayaṃ idāni brāhmaṇānaṃ tapoti
vadati. kuhanā vaṅkadaṇḍā cāti
paṭicchannakūpo viya
paṭicchannadosaṃ kohaññañceva
vaṅkadaṇḍo, ca
udumbarapalāsabeḷuvarukkhānaṃ
aññatarato gahitaṃ
vaṅkadaṇḍañcāti attho.
udakācamanāni cāti udakena
mukhaparimajjanāni. vaṇṇā ete
brāhmaṇānanti ete brāhmaṇānaṃ
parikkhārabhaṇḍakavaṇṇāti
dasseti. kata kiñcikkhabhāvanāti
katā kiñcikkhabhāvanā. ayameva
vā pāṭho, āmisakiñcikkhassa
vaḍḍhanatthāya katanti attho.
evaṃ etarahi brāhmaṇānaṃ mānaṃ
nimmadditvā puna
porāṇakabrāhmaṇānaṃ vaṇṇaṃ
kathento cittañca
susamāhitantiādimāha. tattha
susamāhitanti tesaṃ brāhmaṇānaṃ
cittaṃ upacārappanāsamādhīhi
susamāhitaṃ ahosīti dasseti.
akhilanti mudu athaddhaṃ. so
maggo brahmapattiyāti so
seṭṭhapattiyā maggo, tumhe pana
kiṃ brāhmaṇā nāmāti dīpento
evamāha.
āgamaṃsu nu khvidhāti āgamaṃsu
nu kho idha. adhimuccatīti
kilesavasena adhimutto giddho
hoti. byāpajjatīti byāpādavasena
pūticittaṃ hoti. parittacetasoti
anupaṭṭhitasatitāya
saṃkilesacittena parittacitto.
cetovimuttinti phalasamādhiṃ.
paññāvimuttinti phalapaññaṃ.
appamāṇacetasoti
upaṭṭhitasatitāya
nikkilesacittena appamāṇacitto.
132. Kinh số 9 (Navame):
“
Makkarakate:
– là tên một thi trấn.
Araññakuṭikāyaṃ:
Trong một am tranh riêng biệt
dựng giữa rừng, không phải một
tịnh thất trong chùa.
Māṇavakā:
Dù là người lớn tuổi nhưng vẫn
được gọi là “māṇavakā” (thanh
niên) vì họ là học trò
(antevāsika).
Tenupasaṅkamiṃsu:
Họ đã học nghề xong buổi sáng,
chiều vào rừng hái củi để dâng
thầy, và đến gần am tranh.
Parito parito kuṭikāya:
Đi vòng vòng, chạy quanh am.
Seleyyakāni:
Những trò đùa nhảy qua lưng
nhau, chạy hỗn loạn.
Về lời trịch thượng “muṇḍakā
samaṇakā…”
Muṇḍakā:
“đầu trọc” – cách gọi khinh
miệt.
Samaṇakā:
“sa môn nhỏ” – cũng mang ý coi
thường.
Ibbhā:
thế tục.
Kaṇhā:
đen, tối màu – ám chỉ hạ tiện.
Bandhupādāpaccā:
sinh ra từ chân của Brahmā. Theo
quan niệm chấp thủ rằng:
Tôn giả Mahākaccāna xuất hiện
Nikkhamitvā:
Sau khi nghe ồn ào và thấy các
thanh niên phá phách, Ngài nghĩ:
“Ta sẽ cho họ biết vẫn có Tăng ở
đây.”
Sīluttamā pubbatarā ahesuṃ...:
Bắt đầu giảng bằng kệ tán dương
Bà-la-môn chân chính thời xưa.
Sīluttamā:
người có giới hạnh là tối
thượng.
Ye purāṇaṃ saranti:
những người còn nhớ chân pháp
truyền thống từ xưa.
Dhamme ca jhāne ca ratā:
yêu thích đối với chánh pháp và
thiền định.
Chỉ trích sự suy đồi hiện tại
Ime ca vokkamma:
Bỏ pháp hạnh xưa, chỉ lo tụng
niệm suông.
Gottena mattā:
Tự mãn vì dòng họ.
Puthuattadaṇḍā:
Cầm nhiều gậy khác nhau – ám chỉ
bạo lực và ngụy trang hình thức.
Aguttadvārassa bhavanti moghā:
Nếu không hộ trì các căn, mọi
khổ hạnh đều vô ích.
Supineva laddhaṃ...:
Giống như của cải có được trong
mộng – tỉnh dậy là mất. (giấc
mộng kê vàng)
Phê phán hình thức đạo đức giả
Anāsakā, thaṇḍilasāyikā:
Nhịn ăn, nằm đất
Pāto sinānañca:
Tắm sáng
Tayo ca vedā:
Ba tập Vệ-đà
Kharājinaṃ, jaṭā, paṅko:
Da thú thô, tóc bện, thân bẩn
Mantā, sīlabbataṃ, tapo:
Thần chú, giới, hạnh khổ
Kuhanā, vaṅkadaṇḍā,
udakācamanāni:
Giả dối, gậy cong, rửa miệng
bằng nước
Vaṇṇā ete brāhmaṇānaṃ:
Những thứ này chỉ là hình thức
bên ngoài
Katā kiñcikkhabhāvanā:
Được tạo ra để phô trương, để
nuôi dưỡng cái ngã và danh lợi.
Tán thán phẩm hạnh chân chính
Cittañca susamāhitaṃ...:
Tâm được định tĩnh, trong sáng,
không nhiễm ô
Akhilaṃ sabbabhūtesu:
Không hiềm hận với tất cả chúng
sinh
So maggo brahmapattiyā:
Đó mới chính là con đường đưa
đến cảnh giới Phạm thiên.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
132. IX. Lohicca (S,iv,116)
1) Một thời Tôn giả Mahà Kaccàna
trú ở giữa dân chúng Avanti, tại
Makkarakata, tại một chòi lá
trong rừng.
2) Rồi một số đông đệ tử của
Bà-la-môn Lohicca, là những
thanh niên lượm củi, đi đến chòi
lá trong rừng của Tôn giả Mahà
Kaccàna; sau khi đến, đi qua đi
lại, đi vòng quanh chòi lá, cao
tiếng, lớn tiếng, và làm đủ loại
trò chơi nghịch ngợm: "Những kẻ
trọc đầu, Sa-môn giả hiệu, đê
tiện, đen đủi, sanh từ nơi chân
này, lại được các kẻ nô tì khuân
vác cung kính, tôn trọng, cúng
dường, lễ bái".
3) Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna từ
trong nhà bước ra và nói với các
thanh niên ấy:
-- Này các Thanh niên, chớ có
làm ồn. Ta sẽ thuyết pháp cho
các Ông.
Khi nghe nói vậy, các thanh niên
đều im lặng.
4) Rồi Tôn giả Mahà Kaccàna nói
lên những bài kệ với các thanh
niên ấy:
1) Những bậc cổ nhân xưa,
2) Họ hân hoan trong pháp,
3) Bị phẫn nộ nhiếp phục,
4) Không ăn, quyết nhịn đói,
5) Giả dối và lừa đảo,
6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
5) Rồi các thanh niên ấy, tức
giận và không vui, đi đến
Bà-la-môn Lohicca; sau khi đến,
thưa với Bà-la-môn Lohicca:
-- Mong Tôn giả biết rằng,
Sa-môn Mahà Kaccàna đang một
mạch chỉ trích và mạ lị thần chú
của các Bà-la-môn.
Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn
Lohicca tức giận và không vui.
6) Rồi Bà-la-môn Lohicca suy
nghĩ: "Thật không thích đáng cho
ta khi ta nghe một mình các
thanh niên Bà-la-môn, rồi phỉ
báng và công kích Sa-môn Mahà
Kaccàna. Vậy, ta hãy đi đến và
hỏi vị ấy".
7) Rồi Bà-la-môn Lohicca cùng
với các thanh niên Bà-la-môn ấy
đi đến Tôn giả Mahà Kaccàna; sau
khi đến, nói lên những lời chào
đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi
xuống một bên.
8) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn
Lohicca nói với Tôn giả Mahà
Kaccàna:
-- Tôn giả Kaccàna, có phải có
một số đông đệ tử của chúng tôi,
những thanh niên Bà-la-môn lượm
củi đã đến đây?
-- Này Bà-la-môn, một số đông đệ
tử của Ông, những thanh niên
Bà-la-môn lượm củi có đến tại
đây.
-- Thưa Tôn giả Kaccàna, Tôn giả
có nói chuyện với những thanh
niên Bà-la-môn ấy không?
-- Này Bà-la-môn, tôi có nói
chuyện với những thanh niên
Bà-la-môn ấy.
-- Như thế nào là câu chuyện
giữa Tôn giả Kaccàna với những
thanh niên Bà-la-môn ấy?
-- Này Bà-la-môn, như thế nầy là
câu chuyện giữa tôi và các thanh
niên Bà-la-môn ấy:
1) Những bậc cổ nhân xưa
2-5) ...
6) Nhứt tâm, khéo định tĩnh,
Như vậy, này Bà-la-môn, là cuộc
nói chuyện giữa tôi và các thanh
niên Bà-la-môn ấy.
9) -- Tôn giả Kaccàna có nói đến
hộ trì các căn. Cho đến như thế
nào, thưa Tôn giả Kaccàna, là hộ
trì các căn?
10) -- Ở đây, này Bà-la-môn, có
người sau khi mắt thấy sắc, có
tâm hướng đến các sắc khả ái, có
tâm ghét bỏ các sắc không khả
ái, sống với niệm không an trú,
với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không
như thật biết rõ tâm giải thoát
và tuệ giải thoát. Do vậy, các
ác bất thiện pháp đã khởi lên,
không có đoạn diệt không có dư
tàn.
11-14) ... sau khi tai nghe
tiếng... sau khi mũi ngửi
hương... sau khi lưỡi nếm vị...
sau khi thân cảm xúc...
15) ... sau khi ý biết các pháp,
tâm hướng đến các pháp khả ái,
tâm ghét bỏ các pháp không khả
ái, sống với niệm không an trú,
với tâm nhỏ hẹp. Người ấy không
như thật biết rõ tâm giải thoát
và tuệ giải thoát. Do vậy, các
ác bất thiện pháp đã khởi lên,
không có đoạn diệt không có dư
tàn.
16) Như vậy, này Bà-la-môn, là
các căn không có hộ trì.
17) -- Thật là vi diệu, thưa Tôn
giả Kaccàna, thật là hy hữu,
thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức
Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa
các căn không hộ trì. Các căn có
hộ trì, các căn có hộ trì, Tôn
giả Kaccàna đã nói như vậy; cho
đến như thế nào, thưa Tôn giả
Kaccàna, là các căn có hộ trì?
18) -- Ở đây, này Bà-la-môn,
Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc,
tâm không hướng đến các sắc khả
ái, tâm không ghét bỏ các sắc
không khả ái, sống với niệm an
trú, với tâm vô lượng. Vị ấy như
thật biết rõ tâm giải thoát và
tuệ giải thoát. Do vậy, các ác
bất thiện pháp đã khởi lên được
đoạn diệt không có dư tàn.
19-22) ... sau khi tai nghe
tiếng... sau khi mũi ngửi
hương... sau khi lưỡi nếm vị...
sau khi thân cảm xúc...
23) ... sau khi ý nhận biết các
pháp, tâm không hướng đến các
pháp khả ái, tâm không ghét bỏ
các pháp không khả ái, sống với
niệm an trú, với tâm vô lượng.
Vị ấy như thật biết rõ tâm giải
thoát và tuệ giải thoát. Do vậy,
các ác bất thiện pháp đã khởi
lên được đoạn diệt không có dư
tàn.
24) Như vậy, này Bà-la-môn, là
các căn được hộ trì.
25) -- Thật là vi diệu, thưa Tôn
giả Kaccàna, thật là hy hữu,
thưa Tôn giả Kaccàna, cách thức
Tôn giả Kaccàna đã định nghĩa
các căn được hộ trì. Thật vi
diệu thay, Tôn giả Kaccàna! Thật
vi diệu thay, Tôn giả Kaccàna!
Thưa Tôn giả Kaccàna, như người
dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống, phơi bày ra những gì
bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc
hướng, đem đèn sáng vào trong
bóng tối để cho những ai có mắt
được thấy sắc. Cũng vậy, Chánh
pháp đã được Tôn giả Kaccàna
dùng nhiều phương tiện trình
bày, giải thích. Vậy nay, thưa
Tôn giả Kaccàna, con xin quy y
Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng
Tỷ-kheo. Tôn giả Kaccàna hãy
nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay
cho đến mạng chung, con xin trọn
đời quy ngưỡng. Và như Tôn giả
Kaccàna đi đến viếng các gia
đình cư sĩ, cũng vậy, cũng vậy,
mong Tôn giả Kaccàna hãy đến
viếng các gia đình Lohicca. Tại
đấy, các thanh niên và thanh nữ
sẽ đảnh lễ Tôn giả Kaccàna, sẽ
soạn chỗ ngồi, hay cúng dường
nước cho Tôn giả Kaccàna, và như
vậy, họ sẽ được hạnh phúc, an
lạc trong một thời gian dài.
-ooOoo- |