|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 17 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH VĂN
136. “rūpārāmā, bhikkhave,
devamanussā rūparatā
rūpasammuditā.
rūpavipariṇāmavirāganirodhā
dukkhā, bhikkhave, devamanussā
viharanti. saddārāmā, bhikkhave,
devamanussā saddaratā
saddasammuditā.
saddavipariṇāmavirāganirodhā
dukkhā, bhikkhave, devamanussā
viharanti. gandhārāmā...
rasārāmā... phoṭṭhabbārāmā...
dhammārāmā, bhikkhave,
devamanussā dhammaratā
dhammasammuditā.
dhammavipariṇāmavirāganirodhā
dukkhā, bhikkhave, devamanussā
viharanti. tathāgato ca kho,
bhikkhave, arahaṃ sammāsambuddho
rūpānaṃ samudayañca
atthaṅgamañca assādañca ādīnavaṃ
ca nissaraṇañca yathābhūtaṃ
viditvā na rūpārāmo na rūparato
na rūpasammudito.
rūpavipariṇāmavirāganirodhā
sukho, bhikkhave, tathāgato
viharati. saddānaṃ...
gandhānaṃ... rasānaṃ...
phoṭṭhabbānaṃ... dhammānaṃ
samudayañca atthaṅgamañca
assādañca ādīnavañca
nissaraṇañca yathābhūtaṃ viditvā
na dhammārāmo, na dhammarato, na
dhammasammudito.
dhammavipariṇāmavirāganirodhā
sukho, bhikkhave, tathāgato
viharati”. idamavoca bhagavā.
idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ
etadavoca satthā —
“rūpā saddā rasā gandhā, phassā
dhammā ca kevalā.
iṭṭhā kantā manāpā ca,
yāvatatthīti vuccati.
“sadevakassa lokassa, ete vo
sukhasammatā.
yattha cete nirujjhanti, taṃ
tesaṃ dukkhasammataṃ.
“sukhaṃ {sukhanti (sī.)}
diṭṭhamariyebhi, sakkāyassa
nirodhanaṃ.
paccanīkamidaṃ hoti,
sabbalokena passataṃ.
“yaṃ pare sukhato āhu, tadariyā
āhu dukkhato.
yaṃ pare dukkhato āhu, tadariyā
sukhato vidū.
“passa dhammaṃ
durājānaṃ, sammūḷhettha
aviddasu.
nivutānaṃ tamo hoti, andhakāro
apassataṃ.
“satañca vivaṭaṃ hoti, āloko
passatāmi.
santike na vijānanti, maggā
{magā (sī.)} dhammassa
akovidā.“bhavarāgaparetebhi,
bhavarāgānusārībhi
{bhavasotānusāribhi (syā. kaṃ.
pī.), bhavasotānusārihi (sī.)} .
māradheyyānupannehi, nāyaṃ
dhammo susambudho.
“ko nu aññatra mariyebhi, padaṃ
sambuddhumarahati.
yaṃ padaṃ sammadaññāya,
parinibbanti anāsavā”ti. tatiyaṃ
"Này các Tỳ-khưu, chư thiên và
loài người đắm nhiễm vào sắc,
yêu thích sắc, hoan hỷ với sắc.
Nhưng khi sắc bị biến đổi, đoạn
diệt, hoại diệt, thì chư thiên
và loài người sống trong đau
khổ.
Này các Tỳ-khưu, chư thiên và
loài người đắm nhiễm vào âm
thanh… mùi hương… vị… xúc chạm…
pháp trần (đối tượng của tâm),
yêu thích và hoan hỷ với chúng.
Nhưng khi các pháp ấy biến đổi,
đoạn diệt, hoại diệt, thì chư
thiên và loài người sống trong
đau khổ.
Còn này các Tỳ-khưu, bậc Như
Lai, bậc A-la-hán, bậc Chánh
Đẳng Giác, sau khi thấy rõ như
thật về sự khởi lên và đoạn
diệt, sự hấp dẫn, nguy hiểm và
sự thoát ly của sắc, không còn
đắm nhiễm sắc, không còn yêu
thích sắc, không còn hoan hỷ với
sắc.
Khi sắc biến đổi, đoạn diệt,
hoại diệt – bậc Như Lai sống an
lạc.
Cũng vậy với âm thanh… mùi
hương… vị… xúc chạm… pháp trần:
bậc Như Lai thấy rõ như thật sự
khởi lên và đoạn diệt, sự hấp
dẫn, nguy hiểm và sự thoát ly
của chúng; nên không còn đắm
nhiễm, yêu thích hay hoan hỷ với
chúng. Và khi chúng biến đổi,
đoạn diệt – bậc Như Lai sống an
lạc."
Đức Thế Tôn dạy như vậy như vậy.
Sau khi nói xong, bậc Thiện Thệ
lại nói tiếp với kệ ngôn:
“Sắc, thanh, hương,vị, xúc,
Cuộc đời có thần tiên,
Niết bàn – đoạn thân kiến,
Cái người đời thấy lạc,
Với pháp nan tư nghì,
Đối với bậc hiền trí
Pháp không dễ lãnh hội
Ai, ngoài
các bậc Thánh,
Kinh Yêu Thích Sắc
II (Dutiyarūpārāmasuttaṃ
) giống như kinh trên ngoại trừ
không có phần kệ ngôn
CHÚ THÍCH
Theo Ngài Bodhi thì có một số
điểm cần lưu ý ờ đây:
Ấn bản của Hội Pāli Text Society
đã đặt tên sai cho bài
kinh này là Agayha, và gộp nó
luôn với bài kinh kế tiếp (bắt
đầu tại IV 128,8). Vì vậy, từ
sutta 35:137 trở đi, số thứ tự
sẽ khác một số.
Ấn bản lần Trùng Tuyên Tam Tạng
Thứ VI đặt tên cho sutta 35:136
là Paṭhamarūpārāma (Kinh thứ
nhất về sự đắm nhiễm sắc), và
sutta 35:137 là Dutiyarūpārāma
(Kinh thứ hai về sự đắm nhiễm
sắc). Trong khi đó, ở ấn bản ,
chúng được gọi là Sagayha và
Gayha tương ứng. điểm khác biệt
giữa hai bài kinh là bài trước
có phần kệ tụng, còn bài sau thì
không.
Phần kệ tụng tương đương với
Sutta Nipāta câu 759–765.
Câu kệ 5a nên đọc là: Passa
dhammaṃ durājānaṃ (Hãy xem pháp
khó hiểu này).
Câu 6cd: santike na vijānanti,
maggā dhammass’ akovidā (ngay
gần bên mà không biết, vì không
khéo trong pháp đạo).
Câu 8b: buddhum (đến chỗ giác
ngộ).
Ở câu 3b, Be và Ee đều dùng
“sakkāyassa nirodhanaṃ” (sự đoạn
diệt của thân kiến), trong khi
Se dùng “sakkāyass’ uparodhanaṃ”
(sự chế ngự của thân kiến); tuy
nhiên, ý nghĩa tương đương nhau.
Câu 3d theo Be và Se là passataṃ
(những người thấy), dù Ee dùng
dassanaṃ (cái thấy) được một số
bản chép tay (mss) ủng hộ, và
chú giải có thể được hiểu là
nghiêng về cả hai cách đọc (xem
chú thích tiếp theo).
Quan điểm này của các bậc hiền
trí (idaṃ passantānaṃ paṇḍitānaṃ
dassanaṃ – cái thấy của người
trí thấy được sự thật) là đi
ngược lại (paccanīka) toàn thể
thế gian.
Vì thế gian xem năm uẩn là
thường, lạc, ngã, mỹ; trong khi
bậc trí thấy chúng là vô thường,
khổ, vô ngã và bất tịnh.
Ai khác ngoài các bậc Thánh mới
có thể biết được cảnh giới
Niết-bàn (nibbānappada)?
Sau khi biết đúng sự thật ấy
bằng trí tuệ A-la-hán, họ lập
tức trở thành người không còn
lậu hoặc, và hoàn toàn diệt tận
nhờ vào sự diệt tận của các lậu
hoặc (kilesaparinibbānena
parinibbanti).
Hoặc, sau khi đã trở thành người
không còn lậu hoặc bằng sự thấy
biết chân chánh, thì cuối cùng
họ hoàn toàn diệt tận thông qua
sự tan hoại của năm uẩn
(khandhaparinibbānena
parinibbanti)
.SỚ
GIẢI
136. tatiye rūpasammuditāti rūpe
sammuditā pamoditā. dukkhāti
dukkhitā. sukhoti nibbānasukhena
sukhito. kevalāti sakalā.
yāvatatthīti vuccatīti yattakā
atthīti vuccati. ete voti ettha
vo-kāro nipātamattaṃ.
paccanīkamidaṃ hoti, sabbalokena
passatanti yaṃ idaṃ passantānaṃ
paṇḍitānaṃ dassanaṃ, taṃ
sabbalokena paccanīkaṃ hoti
viruddhaṃ. loko hi pañcakkhandhe
niccā sukhā attā subhāti
maññati, paṇḍitā aniccā dukkhā
anattā asubhāti. sukhato āhūti
sukhanti kathenti. sukhato
vidūti sukhanti jānanti.
sabbametaṃ nibbānameva sandhāya
vuttaṃ.
sammūḷhetthāti ettha nibbāne
sammūḷhā. aviddasūti bālā.
sabbepi hi channavutipāsaṇḍino
“nibbānaṃ pāpuṇissāmā”ti saññino
honti, te pana “nibbānaṃ nāma
idan”tipi na jānanti.
nivutānanti kilesanīvaraṇena
nivutānaṃ pariyonaddhānaṃ.
andhakāro apassatanti
apassantānaṃ andhakāro hoti. kiṃ
taṃ evaṃ hoti? nibbānaṃ vā
nibbānadassanaṃ vā
apassantānañhi bālānaṃ
nibbānampi nibbānadassanampi
kāḷameghāvacchāditaṃ viya
candamaṇḍalaṃ kaṭāhena
paṭikujjitapatto viya ca
niccakālaṃ tamo ceva andhakāro
ca sampajjati.
satañca vivaṭaṃ hoti, āloko
passatāmivāti satañca
sappurisānaṃ paññādassanena
passantānaṃ nibbānaṃ āloko viya
vivaṭaṃ hoti. santike na
vijānanti, magā dhammassa
akovidāti yaṃ attano sarīre kese
vā lomādīsu vā aññatarakoṭṭhāsaṃ
paricchinditvā anantarameva
adhigantabbato attano vā
khandhānaṃ nirodhamaggato
santike nibbānaṃ. taṃ evaṃ
santike samānampi maggabhūtā
janā maggāmaggadhammassa
catusaccadhammassa vā akovidā na
jānanti.
♦māradheyyānupannehīti
tebhūmakavaṭṭaṃ mārassa
nivāsaṭṭhānaṃ anupannehi. ko nu
aññatra ariyebhīti ṭhapetvā
ariye ko nu añño nibbānapadaṃ
jānituṃ arahati. sammadaññāya
parinibbantīti arahattapaññāya
sammā jānitvā anantarameva
anāsavā hutvā
kilesaparinibbānena
parinibbanti. atha vā
sammadaññāya anāsavā hutvā ante
khandhaparinibbānena
parinibbāyanti.
1. Giải thích từ ngữ
trong bài kệ
2. Quan điểm của người trí trái
ngược với thế gian
“Paccanīkam idaṃ hoti,
sabbalokena passatanti”
3. Bậc trí thấy hạnh phúc nơi
Niết-bàn
Tất cả các cách dùng từ này đều
chỉ về Niết-bàn – nơi chấm dứt
khổ đau, không còn bị chi phối
bởi các lậu hoặc và tái sinh.
4. Vì sao phàm phu không hiểu
Niết-bàn?
Mặc dù tất cả 96 loại ngoại đạo
(channavutipāsaṇḍino) đều
nói rằng: “Chúng tôi sẽ đạt đến
Niết-bàn”,
Đối với người ngu si, Niết-bàn
hay cái thấy về Niết-bàn giống
như mặt trăng bị mây đen che
khuất, hoặc như cái mâm úp kín
lên ngọn đèn sáng – lúc nào cũng
là bóng tối, mịt mờ, không có
ánh sáng.
5. Với bậc trí, Niết-bàn là ánh
sáng rực rỡ
Satañca vivaṭaṃ hoti, āloko
passatāmiva
6. Niết-bàn rất gần, nhưng vẫn
không được thấy
Santike na vijānanti
Dù Niết-bàn ở ngay nơi thân năm
uẩn này, có thể đạt được ngay
tại chỗ, nhưng người phàm không
hiểu – do thiếu tuệ, thiếu hướng
đạo.
7. Ai có thể đạt Niết-bàn?
Māradheyyānupannehīti
Ko nu aññatra ariyebhi
8. Chứng ngộ và sự diệt tận
Sammadaññāya parinibbanti
Hoặc:
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
136. III. Không Thâu Nhiếp (2)
(S.iv 126)
1) ...
2) Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và
Người đời thích thú sắc, bị sắc
kích thích. Khi sắc biến hoại,
ly tham, đoạn diệt, này các
Tỷ-kheo, chư Thiên và Người đời
sống đau khổ... thích thú
tiếng... thích thú hương...
thích thú vị... thích thú xúc...
Này các Tỷ-kheo, chư Thiên và
Người đời thích thú pháp, bị
pháp kích thích. Khi pháp biến
hoại, ly tham, đoạn diệt, này
các Tỷ-kheo, chư Thiên và Người
đời sống đau khổ.
3) Này các Tỷ-kheo, Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau
khi như thật biết rõ sự tập
khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự
nguy hiểm và xuất ly của sắc,
không có thích thú sắc, không có
ưa thích sắc, không bị sắc kích
thích. Khi sắc biến hoại, ly
tham, đoạn diệt, này các
Tỷ-kheo, Như Lai sống an lạc...
không thích thú tiếng... không
thích thú hương... không thích
thú vị... không thích thú xúc...
Sau khi như thật biết rõ sự tập
khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự
nguy hiểm và sự xuất ly của
pháp, Như Lai không thích thú
pháp, không ưa thích pháp, không
bị pháp kích thích. Khi pháp
biến hoại, ly tham, đoạn diệt,
Như Lai sống an lạc.
4) Thế Tôn nói như vậy, Thiện
Thệ nói vậy xong, bậc Ðạo Sư lại
nói thêm:
1) Sắc, thanh, hương, vị, xúc,
2) Chư Thiên và Người đời,
3) Bậc Thánh thấy an lạc,
4) Ðiều người gọi là lạc,
5) Thấy pháp khó nhận biết,
6) Thiện nhân mắt rộng mở,
7) Bị tham sanh chinh phục,
8) Ngoài Thánh không có ai, -ooOoo- |