|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 19 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
KINH VĂN
Kinh Không Phải Của Các Người I
138. “yaṃ, bhikkhave, na
tumhākaṃ taṃ pajahatha. taṃ vo
pahīnaṃ hitāya sukhāya
bhavissati. kiñca, bhikkhave, na
tumhākaṃ? cakkhu, bhikkhave, na
tumhākaṃ; taṃ pajahatha. taṃ vo
pahīnaṃ hitāya sukhāya
bhavissati ... pe ... jivhā na
tumhākaṃ; taṃ pajahatha. sā vo
pahīnā hitāya sukhāya bhavissati
... pe ... mano na tumhākaṃ; taṃ
pajahatha. so vo pahīno hitāya
sukhāya bhavissati. seyyathāpi,
bhikkhave, yaṃ imasmiṃ jetavane
tiṇakaṭṭhasākhāpalāsaṃ taṃ jano
hareyya vā ḍaheyya vā
yathāpaccayaṃ vā kareyya, api nu
tumhākaṃ evamassa — ‘amhe jano
harati vā ḍahati vā
yathāpaccayaṃ vā karotī’”ti? “no
hetaṃ, bhante”. “taṃ kissa
hetu”? “na hi no etaṃ, bhante,
attā vā attaniyaṃ vā”ti.
“evameva kho, bhikkhave, cakkhu
na tumhākaṃ; taṃ pajahatha. taṃ
vo pahīnaṃ hitāya sukhāya
bhavissati ... pe ... jivhā na
tumhākaṃ; taṃ pajahatha. sā vo
pahīnā hitāya sukhāya bhavissati
... pe ... mano na tumhākaṃ; taṃ
pajahatha. so vo pahīno hitāya
sukhāya bhavissatī”ti. pañcamaṃ.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ điều gì
không phải của các Thầy, đừng
chấp thủ điều đó. Khi các Thầy
không chấp thủ sẽ dẫn đến lợi
ích và hạnh phúc.
Và, này các Tỳ khưu, cái gì
không phải của các Thầy?
Mắt không phải của các Thầy,
đừng chấp thủ nó. Khi các Thầy
không chấp thủ sẽ dẫn đến lợi
ích và hạnh phúc.
Tai không phải của các Thầy …..
Mũi không phải của các Thầy …..
Lưỡi không phải của các Thầy …..
Thân không phải của các Thầy …..
Ý không phải của các Thầy, đừng
chấp thủ nó. Khi các Thầy không
chấp thủ sẽ dẫn đến lợi ích và
hạnh phúc.
Ví như, này các Tỳ khưu, có
người mang đi cỏ, cành, nhánh,
và lá trong Kỳ Viên (Jetavana)
này, hoặc thiêu đốt chúng, hoặc
làm gì tùy ý họ, thì các Thầy có
nghĩ:
“, Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng như vậy, này các Tỳ khưu,
mắt không phải của các Thầy… tai
…ý…. Khi các Thầy không chấp thủ
sẽ dẫn đến lợi ích và hạnh
phúc”.
Kinh Không Phải Của Các Người II
139. “yaṃ, bhikkhave, na
tumhākaṃ, taṃ pajahatha. taṃ vo
pahīnaṃ hitāya sukhāya
bhavissati. kiñca, bhikkhave, na
tumhākaṃ? rūpā, bhikkhave, na
tumhākaṃ; te pajahatha. te vo
pahīnā hitāya sukhāya
bhavissanti. saddā... gandhā...
rasā... phoṭṭhabbā... dhammā na
tumhākaṃ; te pajahatha. te vo
pahīnā hitāya sukhāya
bhavissanti. seyyathāpi,
bhikkhave, yaṃ imasmiṃ jetavane
... pe ... evameva kho,
bhikkhave, rūpā na tumhākaṃ; te
pajahatha. te vo pahīnā hitāya
sukhāya bhavissantī”ti.
chaṭṭhaṃ.
“Này các Tỳ khưu, bất cứ điều gì
không phải của các Thầy, đừng
chấp thủ điều đó. Khi các Thầy
không chấp thủ sẽ dẫn đến lợi
ích và hạnh phúc.
Và, này các Tỳ khưu, cái gì
không phải của các Thầy?
Sắc không phải của các Thầy,
đừng chấp thủ nó. Khi các Thầy
không chấp thủ sẽ dẫn đến lợi
ích và hạnh phúc.
Thinh không phải của các Thầy
…..
Khí không phải của các
Thầy …..
Vị không phải của các Thầy …..
Xúc không phải của các Thầy …..
Pháp không phải của các Thầy,
đừng chấp thủ nó. Khi các Thầy
không chấp thủ sẽ dẫn đến lợi
ích và hạnh phúc.
Ví như, này các Tỳ khưu, có
người mang đi cỏ, cành, nhánh,
và lá trong Kỳ Viên (Jetavana)
này, hoặc thiêu đốt chúng, hoặc
làm gì tùy ý họ, thì các Thầy có
nghĩ:
“, Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Cũng như vậy, này các Tỳ khưu,
sắc không phải của các Thầy…
thinh …khí…vị…xúc…pháp…. Khi các
Thầy không chấp thủ sẽ dẫn đến
lợi ích và hạnh phúc”.
CHÚ THÍCH
Bài kinh này và bài tiếp theo
tương đương với Tương Ưng Bộ
22:33–34, và là phiên bản rút
gọn hơn của Tương Ưng Bộ
35:101–102.
Tựa đề
hai bài kinh nầy lấy theo
ấn bản Trùng Tuyên Tam Tạng Lần
Thứ VI (Burmese edition).
Ấn bản Tích Lan gọi những bài
kinh này là "Palāsa", còn ấn bản
Pali Text Society ghi là
"Palāsina" —cả hai đều có nghĩa
là “lá cây” hay “tán lá”
(foliage).
SỚ GIẢI
137-145. catutthaṃ
suddhikaṃ
katvā desiyamāne bujjhanakānaṃ
ajjhāsayena vuttaṃ.
pañcamādīni tathā tathā
bujjhantānaṃ
ajjhāsayena vuttāni. attho pana
tesaṃ
pākaṭoyevāti.
“Các bài kinh từ 137 đến 145:
Bài kinh thứ tư (tức bài số 137)
được giảng một cách đơn thuần
(suddhikaṃ katvā), nhằm phù hợp
với căn cơ của những người có
thể giác ngộ khi được giảng giải
theo cách đơn giản
(bujjhanakānaṃ ajjhāsayena
vuttaṃ).
Còn từ bài thứ năm trở đi (tức
các bài 138–145) được giảng theo
những cách khác nhau, tùy theo
khuynh hướng nhận thức
(ajjhāsaya) của những người có
khả năng hiểu theo các phương
diện ấy (tathā tathā
bujjhantānaṃ ajjhāsayena
vuttāni).
Tuy nhiên, ý nghĩa (attho) của
các bài kinh đó rất rõ ràng
(pākaṭo yeva).”
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
137. V. Các Lậu (1)
(S.iv,128)
1) ...
2) Này các Tỷ-kheo, cái gì không
phải của các Ông, hãy từ bỏ
chúng. Từ bỏ chúng sẽ đem lại
hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không
phải của các Ông?
3-8) Mắt, này các Tỷ-kheo, không
phải của các Ông, hãy từ bỏ mắt.
Từ bỏ mắt sẽ đem lại hạnh phúc,
an lạc cho các Ông... Tai...
Mũi... Lưỡi... Thân... Ý, này
các Tỷ-kheo, không phải của các
Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý sẽ đem
lại hạnh phúc, an lạc cho các
Ông.
9) Ví như, này các Tỷ-kheo,
trong rừng Jeta này, có người
mang đi, hoặc đem đốt, hoặc tùy
duyên làm một việc gì đối với
cỏ, củi, cành và lá, thời các
Ông có vì vậy mà nghĩ rằng người
ấy mang các Ông đi, đốt các Ông,
hay tùy duyên làm một việc gì
với các Ông?
-- Thưa không, bạch Thế Tôn.
-- Vì sao?
-- Bạch Thế Tôn, vì cái ấy không
phải tự ngã, không thuộc tự ngã.
10) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo.
Mắt không phải của các Ông, hãy
từ bỏ mắt. Từ bỏ mắt sẽ đem lại
hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
Tai... Mũi... Lưỡi... Thân... Ý,
này các Tỷ-kheo, không phải của
các Ông, hãy từ bỏ ý. Từ bỏ ý,
sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc cho
các Ông.
138. V. Các Lậu (2) (S.iv,129)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, cái gì
không phải của các Ông, hãy từ
bỏ chúng... (Như kinh trước, chỉ
khác là thế vào các sắc, các
tiếng, các hương, các vị, các
xúc, và các pháp). -ooOoo- |