|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 20 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Có một nguyên lý muôn thuở:
“Người tạo tác vụng về thì sản
phẩm không thể là một kiệt tác”.
Sự tương quan giữa sự nhân duyên
tạo tác và sở tạo là điều tất
nhiên. Thế giới bất toàn không
thể tạo nên một một sáng tạo chủ
toàn năng. Phải thấy được căn
cội của vấn đề mới không nuôi
một ảo tưởng về một tương lai
thập toàn, thập mỹ vốn chỉ là vô
vọng. Đức Phật dạy điểm trọng
yếu là từ sự nhận thức rõ về bản
chất vô thường, khổ não, vô ngã,
hành giả có thể khởi tâm nhàm
chán để rồi ly tham và giải
thoát.
KINH VĂN
140. Kinh Căn Nguyên Nội Tại Vô
Thường (Ajjhattāniccahetusuttaṃ)
“cakkhuṃ, bhikkhave, aniccaṃ.
yopi hetu, yopi paccayo
cakkhussa uppādāya, sopi anicco.
aniccasambhūtaṃ, bhikkhave,
cakkhu kuto niccaṃ bhavissati
... pe ... jivhā aniccā. yopi
hetu, yopi paccayo jivhāya
uppādāya sopi anicco.
aniccasambhūtā, bhikkhave, jivhā
kuto niccā bhavissati ... pe ...
mano anicco. yopi, bhikkhave,
hetu yopi paccayo manassa
uppādāya, sopi anicco.
aniccasambhūto, bhikkhave, mano
kuto nicco bhavissati! evaṃ
passaṃ, bhikkhave, sutavā
ariyasāvako cakkhusmimpi
nibbindati ... pe ... jivhāyapi
nibbindati ... pe ... nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. sattamaṃ.
... …
Lưỡi là vô thường. Bất cứ nhân
hay duyên nào đưa đến sự sanh
khởi của lưỡi, chúng cũng đều là
vô thường. Lưỡi được hình thành
từ những pháp vô thường, thì làm
sao nó có thể là thường hằng?
... …
Ý là vô thường, này chư Tỳ khưu.
Bất cứ nhân hay duyên nào đưa
đến sự sanh khởi của ý, chúng
cũng đều là vô thường. Ý được
hình thành từ những pháp vô
thường, thì làm sao nó có thể là
thường hằng?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
141. Kinh Căn Nguyên Nội Tại Khổ
Não (Ajjhattadukkhahetusuttaṃ)
“cakkhuṃ, bhikkhave, dukkhaṃ.
yopi hetu yopi paccayo cakkhussa
uppādāya, sopi dukkho.
dukkhasambhūtaṃ, bhikkhave,
cakkhu kuto sukhaṃ bhavissati
... pe ... jivhā dukkhā. yopi
hetu, yopi paccayo jivhāya
uppādāya, sopi dukkho.
dukkhasambhūtā, bhikkhave, jivhā
kuto sukhā bhavissati ... pe ...
mano dukkho. yopi hetu yopi
paccayo manassa uppādāya, sopi
dukkho. dukkhasambhūto,
bhikkhave, mano kuto sukho
bhavissati! evaṃ passaṃ ... pe
... ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. aṭṭhamaṃ.
140. “Này chư Tỳ khưu, mắt là
khổ não. Bất cứ nhân hay duyên
nào đưa đến sự sanh khởi của
mắt, chúng cũng đều là khổ não.
Con mắt được hình thành từ những
pháp khổ não, thì làm sao nó có
thể là an lạc?
... …
Lưỡi là khổ não. Bất cứ nhân hay
duyên nào đưa đến sự sanh khởi
của lưỡi, chúng cũng đều là khổ
não. Lưỡi được hình thành từ
những pháp khổ não, thì làm sao
nó có thể là
an lạc?
...…
Ý là khổ não, này chư Tỳ khưu.
Bất cứ nhân hay duyên nào đưa
đến sự sanh khởi của ý, chúng
cũng đều là khổ não. Ý được hình
thành từ những pháp khổ não, thì
làm sao nó có thể là an lạc?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
142. Kinh Căn Nguyên Nội Tại Vô
Ngã (Ajjhattānattahetusuttaṃ)
“cakkhuṃ, bhikkhave, anattā.
yopi hetu, yopi paccayo
cakkhussa uppādāya, sopi anattā.
anattasambhūtaṃ, bhikkhave,
cakkhu kuto attā bhavissati ...
pe ... jivhā anattā. yopi hetu
yopi paccayo jivhāya uppādāya,
sopi anattā. anattasambhūtā,
bhikkhave, jivhā kuto attā
bhavissati ... pe ... mano
anattā. yopi hetu yopi paccayo
manassa uppādāya, sopi anattā.
anattasambhūto, bhikkhave, mano
kuto attā bhavissati! evaṃ
passaṃ ... pe ... ‘khīṇā jāti,
vusitaṃ brahmacariyaṃ, kataṃ
karaṇīyaṃ, nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. navamaṃ.
142.
ajjhattānattahetusuttaṃ
140. “Này chư Tỳ khưu, mắt là vô
ngã. Bất cứ nhân hay duyên nào
đưa đến sự sanh khởi của mắt,
chúng cũng đều là vô ngã. Con
mắt được hình thành từ những
pháp vô ngã, thì làm sao nó có
thể là chân ngã?
...
…
Lưỡi là vô ngã. Bất cứ nhân hay
duyên nào đưa đến sự sanh khởi
của lưỡi, chúng cũng đều là vô
ngã. Lưỡi được hình thành từ
những pháp vô ngã, thì làm sao
nó có thể là chân ngã?
... …
Ý là vô ngã, này chư Tỳ khưu.
Bất cứ nhân hay duyên nào đưa
đến sự sanh khởi của ý, chúng
cũng đều là vô ngã. Ý được hình
thành từ những pháp vô ngã, thì
làm sao nó có thể là chân ngã?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
143. Kinh Căn Nguyên Ngoại Giới
Vô Thường
(Bāhirāniccahetusuttaṃ)
“rūpā, bhikkhave, aniccā. yopi
hetu, yopi paccayo rūpānaṃ
uppādāya, sopi anicco.
aniccasambhūtā, bhikkhave, rūpā
kuto niccā bhavissanti! saddā...
gandhā... rasā... phoṭṭhabbā...
dhammā aniccā. yopi hetu, yopi
paccayo dhammānaṃ uppādāya, sopi
anicco. aniccasambhūtā,
bhikkhave, dhammā kuto niccā
bhavissanti! evaṃ passaṃ ... pe
... ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti.
... …
Vị là vô thường. Bất cứ nhân hay
duyên nào đưa đến sự sanh khởi
của lưỡi, chúng cũng đều là vô
thường. Vị được hình thành từ
những pháp vô thường, thì làm
sao nó có thể là thường hằng?
... …
Cảnh pháp là vô thường, này chư
Tỳ khưu. Bất cứ nhân hay duyên
nào đưa đến sự sanh khởi của
cảnh pháp, chúng cũng đều là vô
thường. Cảnh pháp được hình
thành từ những pháp vô thường,
thì làm sao nó có thể là thường
hằng?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
144. Kinh Căn Nguyên Ngọai Giới
Khổ Não (Bāhiradukkhahetusuttaṃ)
“rūpā, bhikkhave, dukkhā. yopi
hetu, yopi paccayo rūpānaṃ
uppādāya, sopi dukkho.
dukkhasambhūtā, bhikkhave, rūpā
kuto sukhā bhavissanti! saddā...
gandhā... rasā... phoṭṭhabbā...
dhammā dukkhā. yopi hetu, yopi
paccayo dhammānaṃ uppādāya, sopi
dukkho. dukkhasambhūtā,
bhikkhave, dhammā kuto sukhā
bhavissanti! evaṃ passaṃ ... pe
... ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. ekādasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, sắc là khổ
não. Bất cứ nhân hay duyên nào
đưa đến sự sanh khởi của sắc,
chúng cũng đều là khổ não. Sắc
được hình thành từ những pháp
khổ não, thì làm sao nó có thể
là an lạc?
... …
Vị là khổ não. Bất cứ nhân hay
duyên nào đưa đến sự sanh khởi
của lưỡi, chúng cũng đều là khổ
não. Vị được hình thành từ những
pháp khổ não, thì làm sao nó có
thể là an lạc?
... …
Cảnh pháp là khổ não, này chư Tỳ
khưu. Bất cứ nhân hay duyên nào
đưa đến sự sanh khởi của cảnh
pháp, chúng cũng đều là khổ não.
Cảnh pháp được hình thành từ
những pháp khổ não, thì làm sao
nó có thể là an lạc?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
145. Căn Nguyên Ngoại Giới Vô
Ngã (Bāhirānattahetusuttaṃ)
“rūpā, bhikkhave, anattā. yopi
hetu, yopi paccayo rūpānaṃ
uppādāya, sopi anattā.
anattasambhūtā, bhikkhave, rūpā
kuto attā bhavissanti! saddā...
gandhā... rasā... phoṭṭhabbā...
dhammā anattā. yopi hetu, yopi
paccayo dhammānaṃ uppādāya, sopi
anattā. anattasambhūtā,
bhikkhave, dhammā kuto attā
bhavissanti! evaṃ passaṃ,
bhikkhave, sutavā ariyasāvako
rūpesupi nibbindati,
saddesupi... gandhesupi...
rasesupi... phoṭṭhabbesupi...
dhammesupi nibbindati. nibbindaṃ
virajjati; virāgā vimuccati;
vimuttasmiṃ vimuttamiti ñāṇaṃ
hoti. ‘khīṇā jāti, vusitaṃ
brahmacariyaṃ, kataṃ karaṇīyaṃ,
nāparaṃ itthattāyā’ti
pajānātī”ti. dvādasamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, sắc là vô ngã.
Bất cứ nhân hay duyên nào đưa
đến sự sanh khởi của sắc, chúng
cũng đều là vô ngã. Sắc được
hình thành từ những pháp vô ngã,
thì làm sao nó có thể là chân
ngã?
... …
Vị là vô ngã. Bất cứ nhân hay
duyên nào đưa đến sự sanh khởi
của lưỡi, chúng cũng đều là vô
ngã. Vị được hình thành từ những
pháp vô ngã, thì làm sao nó có
thể là chân ngã?
... …
Cảnh pháp là vô ngã, này chư Tỳ
khưu. Bất cứ nhân hay duyên nào
đưa đến sự sanh khởi của cảnh
pháp, chúng cũng đều là vô ngã.
Cảnh pháp được hình thành từ
những pháp vô ngã, thì làm sao
nó có thể là chân ngã?
Này chư Tỳ khưu, thấy được như
vậy, vị Thánh đệ tử có học hiểu
sẽ nhàm chán đối với mắt... cũng
như đối với lưỡi... cũng như đối
với ý. Do nhàm chán nên ly tham,
do ly tham nên được giải thoát;
Khi đã giải thoát thì biết rõ
bằng trí tuệ: ‘Đã giải thoát’.
Vị ấy hiểu rằng: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc cần làm
đã làm xong, không còn trở lui
trạng thái này nữa.”
CHÚ THÍCH
Hai chữ nội tại (ajjhata) và
ngoại tại (bāhira) ở đây không
mang ý nghĩa về không gian chỉ
đơn thuần là các căn và đối
tượng tương thích. Như cảnh pháp
không thể nói theo không gian là
trong hay ngoài.
Hai chữ nhân (hetu) và duyên
(paccaya) chỉ cho căn cội và
những tác động lớn nhỏ xa gần.
Có thể nói tất các pháp hữu vi
tập khởi là do “trùng trùng
duyên hệ, điệp điệp duyên sinh”
Cả sáu bài kinh đều khẳng định
quy luật “cái sản sinh bất toàn
thì sản phẩm không thể hoàn
hảo”. Điều nầy chi phối toàn bộ
thế giới hiện tượng.
Theo Sớ Giải, những bài kinh nầy
được Đức Phật giảng riêng biệt
tương ứng với căn cơ của người
nghe.
.SỚ
GIẢI
137-145. catutthaṃ suddhikaṃ
katvā desiyamāne
bujjhanakānaṃ ajjhāsayena
vuttaṃ.pañcamādīni tathā
tathā bujjhantānaṃ
ajjhāsayena vuttāni. attho
pana tesaṃ pākaṭoyevāti.
“Các bài kinh từ 137 đến
145:
Bài kinh thứ tư (tức bài số
137) được giảng một cách đơn
thuần (suddhikaṃ katvā),
nhằm phù hợp với căn cơ của
những người có thể giác ngộ
khi được giảng giải theo
cách đơn giản (bujjhanakānaṃ
ajjhāsayena vuttaṃ).
Còn từ bài thứ năm trở đi
(tức các bài 138–145) được
giảng theo những cách khác
nhau, tùy theo khuynh hướng
nhận thức (ajjhāsaya) của
những người có khả năng hiểu
theo các phương diện ấy
(tathā tathā bujjhantānaṃ
ajjhāsayena vuttāni). Tuy
nhiên, ý nghĩa (attho) của
các bài kinh đó rất rõ ràng
(pākaṭo yeva).”
Bản dịch của Hoà thượng Thích
Minh Châu
139. VI. Nội Căn Do Nhân (1)
(S.iv,129)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, mắt là vô
thường. Do nhân gì, do duyên gì
khiến mắt khởi lên, cái ấy cũng
vô thường. Này các Tỷ-kheo, mắt
do nhân vô thường khởi lên, từ
đâu sẽ thường còn được?
4-7) ... tai... mũi... lưỡi...
thân...
8) Này các Tỷ-kheo, ý là vô
thường. Do nhân gì, do duyên gì
khiến ý khởi lên, cái ấy cũng vô
thường. Này các Tỷ-kheo, ý do
nhân vô thường khởi lên, từ đâu
có thể thường được?
9) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị
Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối
với mắt... đối với ý. Do nhàm
chán, vị ấy ly tham... "...
không còn trở lui trạng thái này
nữa".
140. VII. Nội Căn Do Nhân (2)
(S.iv,130)
(Như kinh trên, chỉ khác khổ thế
cho vô thường) ...
141. VIII. Nội Căn Do Nhân (3)
(S.iv,130)
(Như kinh trên, chỉ khác vô ngã
thế cho vô thường) ..
142 - 144. IX - X. Ngoại Căn Do
Nhân (1)
(2)(3)(S.iv,131)
(Như các kinh trước, chỉ thế vào
các sắc, các tiếng, các hương,
các vị, các xúc, các pháp)... -ooOoo- |